| Trang bià | Trang
Gốc | Phượng Vỹ | Học
trò Huế @ Houston | Học
trò Huế @ các nơi khác | Tin
tức Thông báo | Guestbook| Trang
Nối Kết (Link) | Nhạc chọn lọc | Special
Pictures | Jokes
Cười | Truyện
|

Tràm Cà Mâu
|
N |
ăm học lớp Đệ Ngũ bậc trung học,
tương đương với lớp tám bây giờ, một hôm thằng bạn nhỏ ngồi cạnh tôi thì
thầm :
“Tại sao trong tiểu
thuyết, mỗi khi có hai người ôm nhau, thì tác giả có đề cập đến hạnh phúc ?
Hạnh phúc là cái gì mầy có biết không?”.
Tôi liền tay dong tay rụt
rè hỏi giáo sư đang dạy môn nghị luận luân lý :
“Thưa thầy, hạnh phúc là cái gì?”.
Hỏi mà run
lắm, vì lỡ ra hạnh phúc là chuyện bậy bạ, thì
e lảnh phạt đủ .
Thầy liền ra cho cả lớp một bài luận văn, bình giải câu : “May thay,
ngoài hạnh phúc ra, đời còn có cái gì khác nữa.” Thầy còn ghi chú thêm câu viết
bằng nguyên văn tiếng Pháp để học trò có thể hiểu rõ hơn. Thầy giảng rằng, hạnh
phúc như là cái bóng, mà mọi người trên
thế gian nầy đều luôn luôn theo đuổi, cố chạy theo nhưng không bao giờ bắt gặp
được cả. Bỡi vậy, cho nên may mắn quá, cuộc đời nầy còn có nhiều thứ khác nữa,
để bù đắp vào cái thiếu thốn hạnh phúc,
mà con người như chẵng bao giờ tìm thấy, không bao giờ nắm dược.
Chúng tôi hiểu mập mờ rằng, hạnh phúc là cái gì đó xa lắm, là
như thứ ảo ảnh, mà con người thế gian ai cũng mơ ước, quay quắt đi tìm, và
chẵng bao giờ tìm thấy. Tôi thầm nghĩ, thầy bắt chúng tôi bình luận làm chi cái
thứ không có và khó khăn , để thêm tốn giấy mực, tốn thì giờ. Thế là cả đám học
trò nhi nhô đầu còn cắt tóc trọc, đau khổ nhăn nhó, nặn óc bình giải về hạnh phúc, cái thứ mà
chúng mù mờ, chưa ý thức, chưa hiểu nổi
vài ba phần trăm ý nghĩa. Thằng bạn ngồi sau lưng, thụi tôi hai cái đau điếng,
để phạt cái tội hỏi thầy câu hỏi cắc cớ, làm cho cả lớp phải nhức đầu. Tôi biết
tội, ngồi yên. Tôi cứ yên chí là hạnh
phúc không có thật trên đời nầy, và không tội gì uổng công tìm kiếm. Dù sách
vở, thơ văn, có nói nhiều đến hạnh phúc, tôi e rằng đó là chuyện mơ mộng ao ước
hão huyền, chuyện bánh vẽ của những người chuyên làm thơ văn.
Nhưng khi lớn lên, được đọc kinh Phật, kinh Thánh, và nhiều sách
triết lý Âu Á như Khổng, Lảo ,Chu... và luôn cả kinh Koran và kinh đạo Bahai
nửa, thì tôi tìm cho tôi được một triết
lý đơn sơ, mộc mạc, là cái món hổ lốn
vắt ra từ
tinh túy của các triết lý khác. Tôi tạm gọi là “Triết Lý Củ Khoai”. Vì nó đơn
sơ như củ khoai, rẻ tiền , mộc mạc, và dễ tìm thấy như củ khoai trong đời nầy.
Triết lý đó được đơm gọn lại trong một câu ngắn ngủi : “Nếu chỉ có một củ khoai
thôi, thì hãy nướng nó cho thật thơm mà đớp”. Ý nghĩa của câu đó cũ mèm, hình
như ai cũng biết, và có nhiều câu nói tương tự . Cái triết lý đơn giản nầy giúp
tôi thấy được rằng, hạnh phúc là cái rất cụ thể, rất gần gủi, bất cứ ai, và bất
cứ lúc nào, cũng có thể tìm dược hạnh phúc rất dễ dàng. Ai cho rằng hạnh phúc
là cái xa vời, thì vì họ chưa nắm hết phần tinh túy của các triết lý khác, hoặc
chưa từng nghe một phần của triết lý củ khoai. Nhiều sách vở khác cũng có nói
đến, nhưng người đọc vô tình hoặc cố ý làm ngơ, hoặc biết rất rõ nhưng chẳng
bao giờ thực hành.
Năm 1975 tôi mang cái "triết lý củ khoai" vào nhà tù
cọng sản. Cộng sản gạt rằng, đi học tập chính trị trong vòng một tháng, cho
“thông suốt đường lối của cách mạng” rồi về.
Nghe dễ quá, nên bà con miền
tập” cho xong, mà về với vợ với con, vì việc nhà
còn trăm chuyện lu bu lắm, cả tháng trời ai mà lo cho. Lo nhất là hai ba tuần
đã qua rồi, mà chưa thấy bài vở, chưa thấy học tập chi cả. Không lẽ khóa học phải kéo dài thêm vài tuần? Trong
tù, ngoài đau khổ vì thiếu tự do, còn bị cái đói hành hạ, cái lạnh cắt da thịt
từng đêm và nỗi khó nhọc hàng ngày khi làm lao động tay chân không quen mà tình trạng sức khỏe thì quá suy yếu.
Còn phải đau khổ tinh thần vì làm đi làm lại bản tự khai tự thú, phải tự bịa
đặt tỗi lỗi gán cho mình, để được cái gọi là “thành tâm cải tạo”. Nhưng nỗi
mong chờ làm cho đám tù nhân phờ phạc mau hơn các nguyên nhân khác. Một hôm đi lao động bên ngoài vòng trại , có
anh lượm được bản nháp bức thư của một
lính cọng sản, trong đó viết cho cha mẹ ngoài Bắc rằng, dạo nầy con canh gác tù
rất nhàn nhả, bọn chúng toàn cả cán bộ cao cấp ngụy quyền. Anh tái mặt và đem
lá thư về cho vài người bạn xem, có người xem xong phát khóc vì biết mình đang
ở tù chứ không phải học tập chi cả.
Phần tôi, sau một tháng chưa được về, tôi lờ mờ hiểu rằng “có cái gì không ổn đây”. Tôi
chuẩn bị tinh thần để đón nhận những gì không thể tránh được. Một hôm, sau buổi
cơm chiều, tôi chỉ ngọn đồi bên kia nói với người bạn tù :
“Cứ xem như đó là nơi chôn chúng ta khi tóc bạc lìa đời, và xem
đây như là nơi chúng ta phải sống trọn
đời còn lại. Hãy tìm và tạo những niềm vui nhỏ nhoi nhất mà chúng ta có được ở
nơi nầy. Ráng tìm vui, buồn bả cũng vô ích, mà còn có hại cho sức khỏe.”
Nghe thế, người bạn tù của tôi gần khóc vì sợ. Tôi đem triết lý
củ khoai ra giảng giải.
Về sau, nhiều người bạn tù khác gai mắt bực tức vì thấy chúng
tôi vẫn tỉnh khô, vẫn thản nhiên vui vẻ cười đùa như không phải đang ở tù, như
không phải đang cực nhọc, thiếu thốn, đói khát. Mặc dầu sức khỏe của chúng
tôi sút kém rất mau, gầy gò, răng vẫu,
mắt sâu.
Chúng tôi cứ xem những bữa ăn thiếu thốn kham khổ kia là cao lương mỹ vị, tận
hưởng từng miếng nhai nuốt. Khi chúng tôi bắt được con nhái bén nhỏ, ướp chút
muối, nướng cho thơm ngậy, tổ chức một bửa tiệc thưởng trăng, xé con nhái làm
ba. Ba anh em tù bí mật ăn trong đêm tối bên hè nhà, nhìn trăng chênh chếch,
cười với nhau sung sướng và ngâm nhỏ vài đoạn cổ thi. Ngoài những sinh hoạt công
khai trong tù, chúng tôi còn tổ chức được các buổi văn nghệ bỏ túi, cấp tốc. Ba
bốn tù nhân hẹn nhau ở đám cỏ cao bên cầu tiêu, một người canh chừng, mấy người
kia hát “nhạc củ” cho nhau nghe đở ghiền, sửa lại lời hát các bản nhạc của cọng
sản, dể châm biếm cười chơi. Anh nào làm được bài thơ đắc ý, đem ngâm nga cho
bạn tù chia xẻ, thưởng thức. Những khi đi lao dộng khổ sai như cuốc rẫy, khiêng
đất, tôi và anh bạn, hai đứa hai đầu gánh nặng, vừa làm việc vừa đánh cờ tướng
không bàn: “Pháo hai bình năm, mã bảy tấn sáu,
mã hai tấn ba, xa một tấn một .vân vân.” Mãi suy
nghĩ để chuyển quân trong bàn cờ, chúng tôi quên cả nhọc nhằn, cả hôi hám, cả
nắng cháy, và quên luôn thời gian . Buổi lao động nhọc nhằn qua đi lúc nào mà
không hay .
Chúng tôi
chơi cờ không cao, nhưng chơi mãi rồi thành quen, không cần bàn, mà vẫn quần
nhau từ sáng đến khuya. Cả những đêm học tập chính trị chán ngắt, chúng tôi
ngồi như chăm chú lắm, không ai biết chúng tôi đang chơi cờ không bàn, đang dàn
trận, bắt quân, dứ, chiếu, đang chống đở cho khỏi bị chiếu bí. Chúng tôi say
sưa với trò chơi , chấp cán bộ cọng sản nói dai, nói dài, nói dở, nói đến
khuya. Chúng tôi còn tổ chức các cuộc đua kiến, dấu dế. Bắt dế bỏ vào hộp cho
chúng “học tập cải tạo”, cho chúng cắn nhau. Những con ngất ngư sắp chết, chúng tôi thả
ra và nói: “Nhờ học tập tốt và thành tâm cải
tạo, nhờ ý thức giác ngộ cách mạng cao, và nhờ chính sách khoan hồng của đảng
và nhà nước, nay cho về đoàn tụ với gia đình,” Chúng tôi nháy mắt cười với
nhau.
Chúng tôi tạo những cuộc giải trí nho nhỏ, những buổi văn nghệ bí mật để quên
ngày tháng, và thấy lo buồn tan biến đâu cả.
Phương châm của chúng tôi là “không”, không mong ước, không hy vọng gì cả. Không hy vọng thì khỏi
thất vọng. Không mong ước thì không bồn chồn nôn nao. Khi thấy vài người bạn tù
được thả - theo lối làm kiểng của cọng sản -
các anh khác buồn tủi, đau đớn thất vọng cho thân phận của mình, thì
chúng tôi vẫn bình tỉnh ngồi đánh cờ, chẳng xôn xao, chẳng bàn tán chi cả.
Chúng tôi biết, chưa đến phiên mình, thì có bàn tán xôn xao, đoán mò, suy diễn lạc quan hay bi quan,
thì chỉ thêm buồn khổ mà thôi å. Gạt hết
ra ngoài tai cho yên lòng. Chúng tôi tập bình thản tâm trí, và luôn tìm cơ hội
tận hưởng những thứ hạnh phúc nhỏ nhặt nhất mà chúng tôi có thể có được. Những
khi có được một chậu nước nhỏ để tắm, chúng tôi cử hành cái lể tắm, tận hưởng
niềm sung sướng khi cảm giác của nước mát chảy trên da thịt, trên mình mẩy,
trên tóc tai, và hạnh phúc đến rên lên thành tiếng. Nước tắm trong tù quý như
nước cam lồ. Chúng tôi chia cho nhau vài cọng rau hái được, và cảm được sâu xa
nỗi hạnh phúc có thêm một miếng ăn trong tù, tận hưởng cái khoái khẩu, an ủi
với cái tình bạn chân tình, vì ai cũng đói. Đêm đêm trước khi ngủ, tôi nghe
nhiều tiếng bạn tù thở dài não lòng ngao ngán. Có lẽ
họ đang lo
cho vợ con bên ngoài, giờ nầy không biết làm sao mà sinh sống, mà tồn tại trong
một xã hội đổi thay từ gốc rể. Tôi biết rõ, ở trong tù lo ra cho bên ngoài, ở
bên ngoài lo vào cho trong tù .Không có ích chi, cũng không giải quyết được
việc gì. Không lo cho vợ con bên ngoài, không phải là vô tình bạc nghĩa, mà chỉ
là không làm cái việc vô ích mà thôi. Để tránh suy nghĩ và lo âu, mỗi khi vào
giường, tôi tìm cách giải một bàn cờ thế, hay làm vài ba câu thơ, cũng có khi
ôn lại những kỷ niện đẹp đẻ êm đềm trong quá khứ mà thấy lâng lâng, hoặc ôn lại
các chuyện tiếu lâm mà cười một mình trong bóng tối. Nhờ thế mà ngủ thiếp đi
rất mau.
Chúng tôi tập coi thường những nhọc nhằn, khó khăn và đau dớn
thể xác. Chấp nhận định mệnh khắt khe mà không cần than van. Tinh thần chúng
tôi vững mạnh, sáng suốt. Chúng tôi cố gắng ý thức và hưởng thụ những hạnh phúc rất nhỏ từng ngày, từng giờ,
từng phút, mà ít người cảm nhận . Triết lý củ khoai đã giúp tôi qua được những
tháng ngày tù đày không quá nặng nề, khó chịu từ tinh thần dến vật chất.
Khi ra khỏi tù, sống trong chế độ cọng sản, người người cơ cực,
thiếu thốn, sầu thảm, tinh thần bị đe dọa, sinh hoạt bị dòm ngó, rình mò. Trong
cái giòng xã hội đó, chúng tôi cùng chung thân phận. Thân phận chúng tôi còn
bạc bẻo, yếu kém hơn, thứ phó thường dân bên lề “xã hội chủ
nghĩa tiên tiến”. Nhưng
nhờ triết lý củ khoai, tôi vẫn tìm được hạnh phúc từng ngày. Hạnh phúc của mỗi
sáng dậy sớm, pha một chén trà nóng, uống vào lòng ấm áp, ngâm vài câu thơ, vặn
đài phát thanh BBC, VOA nghe nho nhỏ. Để biết biến chuyển quốc tế, tin tức quốc
nội mà cọng sản cố tình bưng bít, ngăn chặn, che dấu. Hạnh phúc khi trao đổi
tin tức quốc tế, quốc nội với bạn bè, bà con và ước đoán tình hình. Hạnh phúc
nhất là cởi trần nằm phơi gió hây hây ngoài công trường, có khi ngủ tới hai ba
giờ chiều mới thức dậy. Tôi đem cái triết lý thô sơ đó truyền bá cho vài anh em
thân thiết, và khen xã hội cọng sản đã đem đến cho con người sự làm biếng vô
cùng tận. Làm biếng cũng là một hình thức hạnh phúc nho nhỏ. Thật lạ lùng, nhà
nước cho đến cán bộ to nhỏ, miệng ai
cũng lớn lối đại ngôn ca ngợi lao động
siêng năng cần mẫn, mà tất cả mọi người đều biếng nhác, tà tà. Đúng là cha
chung không ai khóc.
Trong xã hội cọng sản, con người không được sống yên ổn, nay
chính sách nầy, mai chính sách khác, thay đổi lung tung, chẳng ai
hoạch dịnh
cho đời sống riêng mình dược cả. Chúng tôi vẫn tìm được nhiều hạnh phúc trong
châm ngôn “không ước mơ, không hy vọng”. Phải dập tắt mọi ước mơ, mọi hy vọng để mà sống, nghe thì như
vô lý, nhưng thực vậy. Cứ thuận theo giòng khổ đau mà trôi nổi với tinh thần
sáng suốt. Không than van, không kể lể, không bi ai. Khi có cơ hội bắt được
niềm vui thì cứ tận hưởng hết mình chút hạnh phúc đang có. Chấp nhận nhưng
không buông xuôi cho số mệnh. Tìm lối thoát với tinh thần nhẹ nhàng., lạc quan,
sáng suốt. Khi leo lên chiếc thuyền nhỏ bé để tìm đường đào thoát ra khỏi vòng
tay cọng sản , chúng tôi cứ tự nghĩ như
mình đang đi du lịch. Đề phòng tối đa,
nhưng không quá nhiều lo âu sợ sệt. Cũng có sợ, nhưng sợ ở một mức độ nhẹ
nhàng, đến nỗi đôi lúc còn cảm thấy thản nhiên và sung sướng, vì biết mình đang
trên con đường đào thoát. Có gì mà lo?
Nếu bị bắt thì ở tù lại, mà ở tù lâu thì tìm cách vượt ngục. Chiếc thuyền nhỏ
đi từ bến sông Sài Gòn về miền Tây, ra cửa Ghềnh Hào. Trên đường đi, chúng tôi
gặp nhiều trạm kiểm soát bắn súng kêu vào xét hỏi giấy tờ. Thấy chúng tôi vui
vẻ, bình tỉnh quá, công an cọng sản không ngờ chúng tôi đi vượt biên . Như
những kẻ ham chơi, chúng tôi thoát ra được hãi phận quốc tế. Thuyền chết máy
giữa biển mênh mông nhiều ngày, nhưng
sao trong lòng chúng tôi vẫn thấy vui, và còn cảm ơn Trời Phật đã giúp chúng
tôi thoát được bàn tay cọng sản độc ác. Có chết cũng vui, thỏa nguyện. Dược
chết giữa biển trời tự do. Chúng tôi vẫn kể chuyện tiếu lâm, cười đùa và có khi
còn cùng nhau ca hát.
Khi may mắn đến được trại tị nạn, thiên hạ ai cũng nóng lòng, ăn
không yên, ở không yên, mong được đi định cư sớm. Họ cứ đưa ra giả thuyết nầy,
giả thuyết kia để tự gây nên nỗi lo lắng cho chính họ và cho bà con chung
quanh. Lo lắng về một bệnh dịch có thể
phát ra,
và phái đoàn Liên Hiệp Quốc sẽ không dám dến phỏng vấn. Lo lắng quốc tế thay
đổi chính sách tị nạn. Họ lo để mà lo, không có đường lối và phương sách giải
quyết các mối lo âu đó.
Tôi bảo họ: “Hãy xem những ngày tháng nầy như đi cắm trại nghỉ
hè dài hạn bên bờ biển, cơm nước có Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nuôi báo cô, chỉ cần
cái xà lỏn thôi là đủ lịch sự như mọi người, cứ vui vẻ nhẫn nại chờ ngày đi
dịnh cư" . Không ai nghe lời tôi, ngày ngày họ họp nhau bàn tán, uyên bác
suy diển, bày dặt dủ tin đồn dể gây cho nhau lo âu thêm, rồi đêm về mất ngủ thở
dài thở ngắn. Phần tôi, thì lên đồi mắc võng nằm ngủ mơ màng trong gió hiu hiu,
thưởng thức tiếng chim ca, nhìn dám mây mỏng lơ lửng bay qua bầu trời xanh, khi
nóng thì nhào xuống biển nô giởn với sóng nước mát dượi, rồi nằm dài trên cát.
Chán thì chơi vài ván cờ tướng, nằm nghe nhạc “chùa” vẵng từ các lều lân cận có máy hát. Buổi chiều về chòi, ăn một
bụng no, uống ly trà, họp bạn bè, kể chuyện tiếu lâm, vui cười vang rân. Đêm
nhóm vài cành thông khô đốt lửa ngồi quanh nhắc chuyện Việt Nam, chuyện cổ
tích, chuyện vui lạ trong đời mỗi người.
Nhiều người ngứa cổ, ca hát, ngâm thơ, cuộc vui kéo dài mãi đến khuya như một
thời thanh bình nào đó ngồi bên lửa trại. Tôi thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng thanh
thản. Không bận tâm lo âu sinh kế, thì giờ tự do không ai bó buộc, không có
chuyện khẩn cấp phải làm, không ưu tư về tiền bạc, trong túi không có một xu,
không bị công an dòm ngó, đe dọa, khủng bố, và không có bổn phận, trách nhiệm
gì cả. Thảnh thơi, vui thú. Cuộc đời có lẻ chưa bao giờ có được những ngày
tháng thần tiên như vậy. Sẵn đó, mà có mấy ai cảm nhận được ?
Một anh bạn trẻ đã nghe lọt tai cái triết lý củ khoai, đã cùng
tôi gọi cái đảo tị nạn là miền đất thần tiên vô ưu. Nhưng với đa số, thì họ gọi
dảo nầy là “Buồn Lo Bi Đát” đọc trại ra từ tên đảo là Pulau Bidong, họ cho là nơi chật
chội, thiếu thốn, nóng nực, chờ mong, khổ sở, lo lắng. Tôi khó truyền bá cái
triết lý củ khoai ra rộng rải, vì người nghe sẽ cho tôi là thằng khùng. Không
ai tin câu nói của tôi rằng: "Dù có nóng lòng lo âu đến mấy, cũng không
thể đi định cư sớm hơn một phút, mà dù tà tà vô lo đến đâu, cũng không chậm đi
định cư hơn nửa giờ." Tôi xem thời gian tại trại tị nạn như nửa năm đi cắm
trại, còn sướng hơn là đi cắm trại. Trở về với thiên nhiên, quần xà lỏn, ở
trần, đi chân đất, ngủ gốc cây, nằm trên cát biển, không lo âu sinh kế, và
trong túi không có một đồng xu, mà cũng chẳng cần tiền bạc làm chi. Tôi chắc chắn
trăm phần rằng, tôi là người sung sướng nhất đảo, vì tôi nhìn thấy được điều
sung sướng, tôi cảm nhận được cái hạnh phúc to lớn thực sự tôi đang có. Còn đa
số thì không thấy, không cảm được.
Tôi đến Mỹ, lang thang đi tìm việc, lội tuyết ngập nửa ống chân,
rả cẳng, gió buốt lạnh cắt da thịt. Trong lòng vẫn vui, vẫn sung sướng, vì biết
mình là kẽ may mắn, đang sống đời tự do. Đa số bà con bạn bè giờ nầy đang khắc
khoải sống trong áp bức, xiềng xích gông cùm của cọng sản. Nhiều bạn bè đã ra
đi, nhưng không đến, đã chết giữa biển khơi,chết trong rừng sâu, bị bắt bớ tù đày, hành hạ.
Biết bao nhiêu triệu kẽ mong được lội bảo tuyết đi tìm việc như tôi mà không
được. Tôi may mắn thế nầy, thế thì sao mà lòng không rộn rã niềm vui, ca hát
cùng gió, cùng tuyết, cùng đất trời trắng phau phau .
Nhờ xông xáo, chỉ hơn mười ngày sau khi đến Mỹ, tôi tìm được một
chân phụ bếp trong tiệm ăn Tàu. Làm việc hơn 15 tiếng mỗi ngày, làm không ngơi
nghĩ. Cắt rau, gọt khoai, chặt thịt, xẻ cá, lạng tôm, chùi nồi, rửa bát, lau
nhà, liền tay liền chân suốt ngày từ sáng sớm cho đến khuya mịt. Di chuyển,
nhảy nhót trong cái khu bếp sực nức mùi
dầu ăn, tôi nghĩ có lẽ những cao thủ võ lâm khổ luyện bí kíp chờ ngày xuống núi
tranh hùng trong các tiểu thuyết kiếm hiệp, cũng chuyên cần đến thế mà thôi.
Trong lòng tôi cũng tràn ngập vui sướng, hạnh phúc, vì mới đến miền đất lạ chưa
được bao lâu, mà đã tự lập và sinh sống được. Tôi cũng tự phục mình, suốt đời
ngồi văn phòng, mà thích nghi được việc lao động rất dễ dàng . Ông chủ tiệm rất
bằng lòng cái vui vẻ, yêu đời, chăm chỉ của tôi. Một khuya trên đường về, tuyết
phủ mênh mông, băng qua công viên tối, tôi trượt chân té ngữa nằm dài . Nhìn
lên trời thấy trăng vằng vặc sáng với ngàn sao long lanh. Tôi thấy trời đất đẹp
quá, cuộc đời đáng yêu vô cùng, và thân thể khoan khoái vì cái xương sống được
nằm trong thế nghỉ ngơi sau hơn mười mấy giờ lao động tay chân. Bao nhiêu mệt nhọc trong thân thể như chảy
loảng tan biến, chạy thấm vào nền tuyết sau lưng. Tôi nằm yên rất lâu ngắm
trăng, và ngâm vài câu cổ thi ca ngợi trăng sao. Giá như có ai thấy được cảnh
nầy, chắc họ tưởng tôi điên khùng. Cái lần té nầy, làm tôi bong gân, không đi
dược, phải nghỉ làm, nhờ đó mà tôi có thì giờ, tìm ra được một công việc trong
nghề cũ.
Khi đi làm việc, đôi khi gặp những cấp chỉ huy dốt nát, hoặc
đồng sự kém cỏi mà lương cao hơn mình, tôi không lấy đó làm điều bất mãn, thắc
mắc như
nhiều
người khác. Vì công ty thì của tư nhân, họ muốn thuê ai, giỏi dốt , trả lương
cao thấp là quyền của họ. Mình chấp nhận làm việc, thì rán làm tròn bổn phận của mình, làm tốt
tối đa. Nếu không bằng lòng với đồng lương, thì cứ tìm nơi khác khá hơn. Vã
lại, đất nước của họ, thì ưu tiên chút đỉnh dành cho họ là phải. Mình ganh tị
thì hóa ra là kẻ không biết điều . Tổ tiên họ đã đổ xương máu ra khai phá, để
bị đâm chết, lột da đầu, bệnh hoạn. Biết bao nhiêu thế hệ đã đóng thuế, xây
dựng nên những tiện nghi ngày hôm nay. Mình là kẻ may mắn nhảy xổm vào chia
phần. Thì cũng cứ vui mà hưởng cái phần
chưa được hoàn toàn bình đẳng đang có.
Qua những cảm nhận, so sánh hàng ngày, tôi dễ dàng tìm được cho
mình cái hạnh phúc của tâm hồn yên ổn. Ở sở, tôi gắng tạo cho mình một môi
trường vui vẻ, thân thiện, cởi mở. Để cảm thấy tám giờ trong ngày là thời gian
dể chịu, vui, hạnh phúc, chứ không phải là thời gian " đi cày" khổ
nhọc như nhiều người quan niệm. Mình chấp nhận công việc để được lảnh lương,
thì dể trả lại, ráng sức làm việc. Tập yêu thích công việc, làm việc với tinh
thần vui vẻ, dù công việc có lập đi lập lại nhàm chán, thì cứ nghĩ rằng sướng
quá, công việc quen tay, dễ dàng, khỏi phải suy nghĩ nhiều, khỏi phải lo âu sợ
làm sai, khỏi phải năn nỉ hỏi ai. Cứ yên tâm mà làm tới. Thế thì không phải
sung sướng , hạnh phúc sao ? Biến cái văn phòng của sở làm, thành một nơi ấm
cúng, vui vẻ, yêu thích, thì đời mình có giá trị, hạnh phúc phong phú hơn
nhiều. Những khi gặp khó khăn trắc trở, gặp những thay đổi bất thuận lợi , tôi
cứ bình tỉnh chấp nhận chuyện không may, và tự bảo rằng, cuộc đời nầy như một
chuổi kết hợp giửa cái may mắn và xui xẻo, giửa hạnh phúc và đau khổ , giửa
thuận lợi và trắc trở. Thì cứ từ từ mà giải quyết, sẵn sàng chấp nhận cái kết
quả xấu nhất. Thế là yên tâm, và đôi khi cũng nhờ cái yên tâm, mà công việc
được thuận buồm xuôi mái hơn.
Sống ở đất nước lạ, lòng hoài hương làm nhiều người thương nhớ
không nguôi, làm đau nhức con tim. Tôi biến tình cảm đó thành một thứ an ủi dịu
dàng, một thứ hạnh phúc êm đềm khi nhận được thơ nhà, thơ bạn bè. Những giúp đở
nho nhỏ cho người cùng khổ bên quê nhà là một thứ an ủi cho những giây phút mệt
nhọc khó khăn trong công việc nơi quê người.

Những buổi sáng, khi chuông đồng hồ rền rỉ đánh thức dậy đi làm, nhất là những sáng thứ hai ngày
mùa đông rét mướt tối tăm, nhiều người cảm thấy quá mệt nhọc, quá khó chịu, và
họ "giả như" hôm nay được nghỉ thì sướng vô cùng. Còn tôi,
thì mỗi sáng thức dậy với tràn ngập niềm vui, biết hôm nay ta sống thêm một
ngày trong thế giới tự do, hôm nay ta còn công ăn việc làm, chưa thất nghiệp.
Thế thì lòng đã phơi phới, sá chi đông giá lạnh lẻo tối tăm. Con đường đi đến
sở, nhạc trong xe dịu dàng rải rắc khắp không gian. Có lần tôi bị thất nghiệp,
buổi sáng thức dậy, tận sâu thẳm trong lòng tôi vẫn lâng lâng niềm hạnh phúc lạ
kỳ, với ý nghĩ rằng, nhờ thất nghiệp mà còn được ngủ nướng, muộn màng, nằm dã
dượi, nhìn nắng ấm dịu dàng len qua song, trải lên chiếu giường. Chốc nửa,
sẽ nằm đọc truyện, uống trà, nghe nhạc
cổ điển êm dịu. Chiều đi câu bên hồ. Tối nay thức khuya xem phim muộn về đêm,
khỏi phải sợ ngủ gục trong sở. Việc chi mà quá lo âu về kinh tế gia đình, khéo
co giản nhu cầu theo hoàn cảnh, thì không việc gì phải lo,. Vả lại, công việc
làm, thì cửa nầy đóng, cửa kia sẽ mở, đâu đến nỗi chết đói mà sợ.
Nhiều người hỏi tôi sao không mua nhà để được trừ thuế mà cứ
sống trong nhà thuê chật chội. Tôi trả lời là tôi đang mua hạnh phúc. Hạnh phúc
mua được rẻ hơn tiền đóng thuế. Mua cái nhà khi chưa vững chắc về tài chánh là
mua cả khối lo lắng lớn lao vào thân, làm mất đi cái an bình quý báu của cuộc
sống. Nhiều người, vì mua nhà, sợ mất việc, cho nên hèn cả con người. Khi tôi
đủ sức mua nhà mà không phải lo âu vì nợ nần, thì cũng có nhiều bạn bè bà con
hỏi, sao dư khả năng để mua những căn nhà lớn hơn, khu sang trọng hơn, mà lại
mua căn nhà nhỏ. Tôi nói với họ là tôi không
có nhu cầu sang trọng, căn nhà nhỏ cũng
đủ cho gia đình tôi trú ngụ yên ấm. Nhà càng lớn, càng phải chăm sóc ï quét tước . chùi dọn nhiều, sưả chửa nhiều,
mất thì giờ hưởng thụ những thú vui khác của cuộc đời. Lại nợ nần nhiều thêm lo lắng, có hại đến
hạnh phúc bình thường. Căn nhà nhỏ của chúng tôi, nếu chẳng may cả hai vợ chồng
thất nghiệp, cũng chẳng có chút bối rối
nào . Có thể, tôi không khôn ngoan trên nhản quan kinh tế, nhưng tôi
chắc chắn không sai lầm chút nào trên quan điểm hạnh phúc nhân sinh. Vợ chồng
chúng tôi thường nói với nhau, nếu bây giờ có thêm vài triệu đồng tiền mặt, thì
có lẻ đời sống chúng tôi cũng chẳng thay đổi gì hơn. Cũng không ăn dược nhiều
hơn một miếng, cũng khong ngủ được một lúc hai giường. Thức ăn thì bò, heo, gà,
tôm, cua, cá, rau cải, bất cứ thứ nào cũng thừa khả năng mua. Không cần phải
giàu lắm mới mua được. Ngồi ăn trong nhà hàng sang trọng đắt tiền, chắc chi
ngon miệng hơn ngồi chồm hổm bên góc đường húp riêu.
Vợ tôi thường trách tôi bạn bè quá đông, bạn tốt cũng đông mà
bạn xấu cũng đông . Tôi thì thấy không ai hoàn toàn tốt, mà cũng không ai hoàn
toàn xấu. Đã là con người thì có xấu tốt lẫn lộn. Chơi với bạn thì chỉ nên nhìn
vào cái tốt bạn có, đừng để ý đến cái xấu . Ngay cả bản thân mình, cũng đầy cả
nết hư tật xấu mà chưa chừa được. Chắc chắn, cũng không ít người chê bai sau
lưng mình, nhạo báng mình, mà mình không biết đó thôi. Nếu họ có chê trách
mình, thì họ cũng đúng phần nào dưới nhản quan của họ. Bởi vậy, tôi thường để
vài giờ tự chế diễu mình, ghi lên giấy những lố lăng, những kỳ cục, những khả ố
của mình. Để mình thấy rõ mà tha thứ cho cho mình, tha thứ cho người khác dễ
dàng hơn.
Thế mà người gần gũi tôi nhất, thân thiết nhất, là vợ tôi,
thường chống báng cái triết lý củ khoai nhiều nhất. Nhưng nàng đâu hiểu, những
hạnh phúc bình thường tràn đầy mà gia đình tôi
thực sự có được, cũng nhờ cái triết lý củ khoai ấy. Thường thường ít ai thấy và cảm được những
hạnh phúc mà họ đang có , chỉ khi mất đi rồi, mới nhận chân ra, và chép miệng
tiếc
thương.
Nhiều khi vợ tôi làm những điều không phải, nói những lời khinh bạc, tôi không
nổi giận la hét làm dữ như những người khác. Tôi thầm bảo, nhiều người đàn bà
còn tệ hơn vợ mình cả trăm lần, mình phải chấp nhận cái tương đối để vui sống.
Và lại, mình có hoàn toàn đâu mà buộc người phối ngẫu của mình phải hoàn toàn.
Thế là mọi sự đều qua.
Điều tôi thường hay nghĩ đến là nếu. Nếu tất cả sự thực hôm nay
là giấc mộng, sáng mai thức giấc, thấy mình đang còn nằm trong nhà tù cọng sản,
thì thật có nhiều điều điều đáng ân hận và tiếc. Và nếu đời là một giấc mơ, thì
sao chúng ta không mơ cho thật đẹp .
|
Trang bià | Trang
Gốc | Phượng Vỹ | Học
trò Huế @ Houston | Học
trò Huế @ các nơi khác | Tin
tức Thông báo | Guestbook| Trang
Nối Kết (Link) | Nhạc chọn lọc | Special
Pictures | Jokes
Cười | Truyện
|