Viễn ảnh về một giải
NOBEL VĂN CHƯƠNG
cho
giới Văn Bút Việt
Trần Kiêm Đoàn
Một lần nữa, giải Nobel Văn Chương
lại vào tay nhà văn của một quốc gia
“con cháu ngoại” - Nghĩa là không xuất thân từ giới văn bút thuộc về
chiếc nôi văn hóa truyền thống Âu Châu hay thuộc nòi hiệp sĩ “gươm nóng hổi”
Bắc Mỹ!
Người đoạt giải Nobel Văn Chương
năm nay, 2003, là một nhà văn Nam Phi 63 tuổi,
Coetzee hiện là một giáo sư tiến sĩ
ngành văn chương Anh Mỹ, xuất thân từ đại học Cape Town. Từ năm 2002 sống tại
Úc và hiện là giáo sư thỉnh giảng tại đại học Chicago, Hoa Kỳ.
Coetzee là một trong những tác giả
thành công hàng đầu của Nam Phi với 8 tác phẩm tiểu thuyết đã xuất bản và là
tác giả sáng giá của nhiều bài biên khảo và luận thuyết có ảnh hưởng rất sâu
rộng tại châu Phi. Coetzee được xem là
mẫu người kín đáo, xa lánh mọi hình thức quảng cáo, vinh danh, phỏng vấn, hội
hè đình đám xưng tụng nhau... tới mức lập dị. Ông có một lối phân tích và lý
luận cực kỳ bạo liệt (ruthless) khi đả kích sự độc đoán và tàn bạo của chủ
nghĩa phân biệt chủng tộc ở Nam Phi và thói đạo đức hình thức hời hợt của xã
hội phương Tây.
Tác phẩm mới nhất đóng vai trò “hỏa
pháo” góp phần tích cực đưa Coetzee lên đài danh vọng là cuốn tiểu thuyết nhan
đề “Disgrace" (Bỉ Mặt), xuất bản năm 1999 thuộc lọai “best seller” mà chỉ
ở Mỹ không thôi cũng đã bán ra 200.000 ấn bản.
Tuy nội dung tác phẩm chỉ đơn giản là câu chuyện của David Lurie, một
giáo sư dạy môn ngôn ngữ học tại một trường đại học ở Cape Town. Đời đã hai lần ly dị, ở lứa tuổi năm mươi,
David yêu cô học trò sinh viên của mình.
Chuyện yêu đương chẳng đi đến đâu, bị kết tội xâm phạm tình dục và bị
đuổi dạy. Không một lời biện minh, David
về vùng quê heo hút sống hẩm hiu với Lucy, cô con gái rượu duy nhất mang chứng
đồng tính luyến ái. David cam chịu một
cuộc sống tẻ nhạt ở nông trại mà Lucy
cho rằng: “Cuộc sống nơi đây là
thế đó. Một cuộc sống chia phần với súc vật.” (This is the only life there
is. Which we share with animals.) Thật
ra, tác phẩm Disgrace tuy chỉ 200 trang với một nội dung đơn giản như thế,
nhưng lại mang tầm cỡ Nobel vì tác giả không phải là người viết lách kể chuyện
đơn thuần. Coetzee đã gởi gắm một thông
điệp sâu kín mang đầy tính phản kháng và nhân bản ẩn sau hàng chữ nghĩa. Nhân vật David là hiện thân của con người bị
áp bức và chấp nhận số phận tủi nhục của mình một cách thản nhiên trong xã hội
kỳ thị chủng tộc Nam Phi. Sự “Bỉ Mặt” coi
như tất nhiên, sự chịu đựng câm lặng của thân phận con người quá dạn dày đến
nỗi không ai buồn đối kháng.
Bản chất của một nền văn nghệ lành
mạnh mang tính tự do và đối kháng với quyền lực áp bức bất cứ từ đâu đến. Người cầm bút chân chính mang tinh thần khai
phóng để cổ võ cho nhân quyền, tự do và công bằng của xã hội. Khi không có tự
do và không có quyền lên tiếng bảo vệ quyền sống thiêng liêng của con người là
khi người làm văn nghệ bị truất quyền sáng tạo chân chính. Khi đó, người cầm bút được gọi là “nhà văn”
chỉ còn là người cầm bút xếp chữ bâng quơ và xa lạ với thực trạng của xã hội và
con người mà anh ta đang sống.
Suốt 100 năm lịch sử, tuy cũng có
lúc thăng trầm hay vắng bóng, nhưng tinh thần giải thưởng Nobel chưa bao giờ hạ
thấp con đường lý tưởng đích thực của văn chương.
Thử nhìn lại một chặng đường rất
ngắn của văn học trong vòng 5 năm qua. Giải văn chương Nobel đã chuyển mình để
dấn thân một cách tích cực vào cộng đồng văn học thế giới và làm sáng danh cho
lý tưởng khai phóng của văn chương.
1999: Gunter Grass
Nhận định về nghệ thuật văn chương
trong tác phẩm Cái Trống Ếch, Alix Wilber viết rằng nhà văn Grass đã dùng sự
cười cợt như một con dao - nó làm cho bạn cười, nhưng cũng làm cho bạn rướm
máu. Tác phẩm chứa đầy tính chất tượng
trưng để nói lên sự bi đát sâu thẳm về thân phận con người trong lịch sử nước
Đức cũng như trên toàn thế giới. Trong
suốt 40 năm lịch sử nhà văn Grass cũng như tác phẩm của ông đã chịu không biết
bao nhiêu búa rìu của dư luận. Ngay trên
quê hương ông, ở Tây Đức thì Cái Trống Ếch được chọn làm sách giáo khoa mà Đông
Đức thì tịch thu và cấm đoán. Thế nhưng
rồi cuối cùng cuốn sách cũng vượt qua tất cả những biên giới của con người để
đến một vùng trời vĩnh cửu: Đó thế giới
chân tâm của con người. Thông điệp gần
như sau cùng của Guenter Grass gởi cho thế hệ đàn em là: “Người văn nghệ cũng như người đi buôn, vốn trao đi thì mong có lãi trở
về. Lãi của con buôn là tiền bạc, nhưng
lãi của người nghệ sĩ là sự khen chê của người đời dành cho tác phẩm của
mình. Điều đáng sợ hãi nhất cho người
văn nghệ là sự im lặng của người đọc hay khán giả. Đừng vội hài lòng với những lời khen và buồn
bã trước những lời chê, mà hãy vui vì bạn đã có sức lay động được lòng người
trứơc đã.”
2000: Cao Hành Kiện
Cao Hành Kiện (Gao Xingjian), nhà
văn đầu tiên của Trung Hoa được giải thưởng Văn Chương tương đối sáng giá nhất
của nhân loại trong suốt 100 năm qua -
giải Văn Chương Nobel. Trong sự
nghiệp văn chương phong phú bao gồm nhiều thể loại, tác phẩm tiểu thuyết tiêu
biểu nhất đã đưa Cao Hành Kiện lên hàng “Nobel văn giả” là cuốn Linh Sơn (Soul
Mountain/ La Montagne de l'Âme), một tác phẩm dài trên 500 trang. Linh Sơn là một tác phẩm kết cấu tổng hợp
nhiều hình thái và thể loại sáng tạo văn chương. Trong đó, hồi ký, chuyện tình, phóng sự xã
hội, thực tế, hư cấu, triết lý, hoạt kê, hội thoại, đối thọai, độc thoại...
quyện vào nhau như trái núi mang nhiều vẻ hiện thực và kỳ bí tùy theo thời gian
và thế ngắm.
Cao
Hành Kiện sinh năm 1940 tại Cống Châu (Ganzhou), Quảng Tây, Trung Hoa. Vốn là một nghệ sĩ đa tài trong các lĩnh vực
văn chương, hội họa, kịch nghệ, phê bình, dịch thuật, Cao đã lận đận lớn lên
giữa thời đại Mao Trạch Đông. Trong thời
kỳ Cách Mạng Văn Hóa (1966-76) ông đã bị đưa vào trại học tập cải tạo và phải
âm thầm thiêu hủy cả một va-li đầy bản thảo tác phẩm của mình.
Trong
bối cảnh xã hội và văn hóa đặt trọng tâm trên đời sống tập thể, cá nhân không
còn chỗ đứng và có khi bị tan loãng trong cơn lũ ồ ạt của tâm lý quần chúng,
tình cảm tập thể, và suy tưởng một chiều.
Cao sống sót và cứu được mình trong cơn đại hồng thủy của tư tưởng. Ngọn núi Linh Sơn là một ngọn núi ảo ảnh
nhưng cái bóng sừng sững mà vô hình của nó trở thành điểm tựa của mình và cho
chính mình vì nó là ngọn núi của bản ngã.
Trung
Hoa từ năm 1942 và nhất là qua biến cố “quốc hữu hóa văn chương” năm 1949 trở
về sau, sứ mạng độc tôn sáng tạo văn nghệ là để phục vụ chính trị. Nhà văn muốn sống còn thì phải tự biến thành
cái răng cưa của bánh xe trong guồng máy chính trị tập thể. Cao Hành Kiện là một trong những văn nghệ sĩ
tiền phong của Trung Hoa thời hậu Mao đã cổ vũ, đấu tranh cho quyền sáng tác
văn nghệ tự do và đích thực. Trong tác
phẩm “Tham luận khởi đầu về nghệ thuật của tiểu thuyết hiện đại” (Premier essai
sur les techniques du roman moderne) năm 1981, ông đã dấy lên cuộc bút chiến
đầy sóng gió về “Quan Điểm Mới” trong sáng tác văn nghệ. Năm 1985,
tác phẩm “Kẻ Rừng Rú” (L'Homme sauvage) là bước phản công bão liệt
nhất về guồng máy văn nghệ tập thể đã
làm lu mờ tài năng nghệ sĩ. Quan điểm
văn nghệ tìm lại con người chân thực của ông đã gây ra những cuộc bút chiến sôi
nổi trong nước và đã lôi kéo được sự chú ý của cộng đồng văn bút thế giới. Đến năm 1986, tác phẩm “Bờ Bến Khác” (The
Other Shore) đã bị giới văn nghệ cầm quyền ở Trung Hoa cấm đoán, phê phán gắt
gao.
Để giữ cho ngọn núi bản ngã được ẩn mình an
trú trong cơn giông bão thời thế, Cao Hành Kiện đã làm một cuộc “hành hương”
trong suốt mười tháng. Ông đã bước đi
trên lộ trình dài 15000 cây số qua những vùng núi non hiểm trở miền Tứ Xuyên;
từ ngọn nguồn sông Dương Tử (còn có tên
là Trường Giang) dọc tới biển khơi. Chất
liệu chính của tác phẩm Linh Sơn là dòng suy tưởng, là cảnh sông núi chập
chùng, là dáng trời đất bao la, là khuôn mặt thật của con người, là những mảnh
đời muôn vẻ; và quan trọng nhất là sự tìm về ngọn nguồn, về bản chất của sự
bình an sâu lắng và tự do thực sự trong chính mình. Giáo sư
Lee Mabel, người dịch tác phẩm Linh Sơn sang tiếng Anh đã nhận định:
“Linh Sơn là câu chuyện của người đi tìm sự an bình và tự do bên trong.”
Trong cuộc hành trình tìm về Linh
Sơn, có chăng những người cầm bút Việt Nam bên kia cũng như bên nầy đất nước
đang âm thầm nhập cuộc. Sẽ trễ tràng cho
một sự chối từ, nhưng sẽ không bao giờ muộn màng cho một sự nhập cuộc. Nhập cuộc trên đường về Linh Sơn cũng có
nghĩa là chia tay. Có can đảm chia tay
với đám đông ồn ào, quyền thế, phù hoa, vọng động mới có thể trở lại bến bờ của
dòng sông Tự Ngã trong chính lòng mình. Và từ đó tìm về Linh Sơn, ngọn núi của
bản ngã hay chính là linh hồn còn nguyên vẹn trong mỗi con người.
2001: V. S. Naipaul
Đây là một nhà văn nổi tiếng từ
trong suốt ba, bốn thập niên qua. Ngoài
các giải thưởng văn chương dành cho ông như Booker Prizes (1971), T.S. Eliot Award
(1986), tiến sĩ danh dự của các đại học St. Andrew, Cambridge, Columbia,
London, Oxford, năm 1990, V.S. Naipaul được nữ hoàng Elizabeth tấn phong tước
hiệu “Hiệp Sĩ”. Đây là một danh dự cao
quý nhất của Hoàng gia Anh quốc dành cho những người đạt thành tích kiệt xuất
trong lĩnh vực chuyên môn của mình.
Sự kiện nhà văn V.S. Naipaul được
giải Nobel năm đó trong thời điểm toàn thế giới đang lên cơn sốt vì nạn khủng
bố của lực lượng Hồi giáo quá khích đã làm dấy lên nhiều câu hỏi liên quan đến
“tính chính trị và thời thượng” của giải Nobel.
Sở dĩ câu hỏi này được đặt ra vì trong số hơn 20 tác phẩm của V.S.
Naipaul đã xuất bản từ năm 1957 đến nay có 2 tác phẩm liên quan đến Hồi giáo:
Giữa Những Tín Đồ ( Among the
Believers, 1981) và Mặt Trái Đức Tin (Beyond Belief, 1998). Đây là kết quả sự tìm hiểu, tham khảo, ghi
nhận tại chỗ của tác giả trong các cuộc du hành tới những nước Hồi giáo như
Indonesia, Iran, Pakistan, và Malaysia.
V.S. Naipaul đã tìm hiểu ngọn nguồn của Hồi
giáo hiện đại và ý thức hệ của sự cuồng nộ trong tôn giáo nầy. Ông đã viết trong cuốn Giữa Những Tín Đồ
rằng: “Hồi giáo đã thần thánh hóa sự cuồng nộ: Cuồng nộ trong đức tin và cuồng
nộ về chính trị. Và hơn một lần trong
chuyến đi nầy, tôi đã gặp những người đàn ông nhạy cảm, họ là những người sẵn
sàng mê man lao vào những cuộc biến động lớn.”
Ông cũng đã viết trong Mặt Trái Đức
Tin là: “Có lẽ không có một chủ nghĩa đế quốc nào giống như nghĩa đế quốc của
Hồi giáo và các xứ Ả Rập”.
Điều thú vị là V.S. Naipaul không
bị các tín đồ Hồi giáo lên án khắt khe như đối với Salman Rushdie khi xuất bản
tác phẩm Lời Quỷ Sứ (The Satanic Verses) trước đây mà chỉ bị phê phán nhẹ nhàng
là: “Thiếu một viễn kiến cần thiết về Hồi giáo.”
2002: Imre Kertesz
Giải Nobel Văn Chương
và giá trị tượng trưng của nó
Để có một nhận định chính xác hơn
về sự khách quan và nguyên tắc tuyển lựa chặt chẽ của Hàn Lâm viện Thụy Điển và
Hội đồng chấm giải Nobel, tôi xin trình bày sơ lược phương thức làm việc của họ
như sau:
Trên
danh nghĩa, Hàn lâm viện Thụy Điển là cơ quan tuyển chọn giải thưởng Nobel,
nhưng trên thực tế thì quá trình chọn lựa nầy là một công trình đóng góp tập
thể của các học giả, chuyên gia, tác giả, thi văn nghệ sĩ... có uy thế và uy
tín từ nhiều nơi trên thế giới. Trình tự
về thời gian tuyển lựa giải Nobel văn chương được quy định theo một nguyên tắc
không thay đổi như sau:
Thời gian bắt đầu từ đầu mùa Thu
năm trước, khi Hàn lâm viện Thụy Điển mời tất cả các nhân vật được biết đến
trên toàn thế giới nộp danh sách các ứng viên được đề cử. Mỗi nhân vật đề cử đều phải viết “đề nghị
thư” để trình bày và bảo vệ cho lý do chon lựa của mình. Tự đề cử mình làm ứng viên hoàn toàn không
được chấp nhận. Tất cả danh sách các ứng
viên được đề nghị đều phải nộp cho Hội Đồng Hàn lâm viện trước ngày mồng 1
tháng 2 hàng năm. Mỗi năm, có khoảng
1000 ứng viên được đề nghị cho giải thưởng Văn chương Nobel, trong đó có chừng
từ 100 đến 250 là nhà văn. Số ứng viên
đề nghị nầy được cộng chung với các ứng viên do chính các thành viên trong Hội
Đồng và Hàn lâm viện tuyển lựa. Giai
đoạn kế tiếp, Hội Đồng tuyển chọn lọc lại còn 15 ứng viên và danh sách nầy phải
hoàn thành trong tháng 4. Cuối tháng 5,
số ứng viên được tuyển chọn vào vòng chung kết còn lại là 5 người. Có hàng trăm nhân vật tên tuổi trong lãnh vực
văn chương khắp thế giới phụ tá cung cấp tất cả các nguồn tư liệu về tác phẩm,
sáng tác và các công trình biên khảo liên quan đến 5 ứng viên nầy.
Sau khi sử dụng suốt mùa Hè để đọc,
nghiên cứu và phân tích giá trị văn chương tất cả tác phẩm của từng ứng viên
một trong tổng số 5 nhân vật vào chung kết, Hội Đồng Giải Nobel đệ trình Đề Nghị
của họ lên Hàn lâm viện Thụy Điển. Tháng
10, Hàn lâm viện tiến hành một cuộc bỏ phiếu kín để chọn người trúng giải.
Giải Nobel Văn chương không hẳn là
thước đo chuẩn xác tuyệt đối để thẩm định giá trị văn chương và tài năng đích
thực của một tác giả. Tuy nhiên, đối với
thế giới văn bút toàn cầu thì giải thưởng nầy vẫn là một giải thưởng văn chương
sáng giá và được kính trọng nhất trong lịch sử văn học quốc tế suốt 100 năm qua. Chính tên tuổi lẫy lừng của
người trúng giải đã mang đến sự vinh quang cho giải thưởng, hơn là chính giải
thưởng Nobel tự nó mang hào quang đến cho người nhận giải.
Nói một cách công bằng thì chiếc
huy chương nào cũng có mặt giới hạn của nó. Trong lịch sử văn học thế giới,
cũng đã có nhiều thi hào, văn hào kiệt xuất nhưng vẫn bị “sẩy” giải Nobel Văn
Chương trong khi những tên tuổi đương thời khác ít lẫy lừng hơn lại được. Có thể kể một số trường hợp điển hình như:
Tolstoy, Proust, Hardy, Chekhov, Ibsen, James Joyce, Joseph Conrad, Kafka,
Bretch... là những tài năng văn chương tuyệt vời của nhân lọai nhưng vẫn không
được trao giải thưởng Nobel Văn Chương.
Và trong một nhận định có tính cách
tương đối thì hầu như các nhà văn, nhà thơ được gỉai Nobel Văn Chương trong một
thế kỷ qua đều có một giá trị nhất định trong thế giới văn bút. Từ Prudhomme,
nhà thơ đầu tiên được giải văn chương Nobel năm 1901 cho đến J.M. Coetzee năm
2003, những tác giả đoạt giải Nobel có thể khác nhau về nhiều mặt, nhưng tất cả đều có chung một điểm là bên
cạnh bề rộng của sự nghiệp văn chương rỡ ràng, còn có bề sâu của tác phẩm. Những tác phẩm tiểu thuyết, thi ca, triết
học, biên khảo... của họ là những cái giếng thăm thẳm của tư tưởng, những ngọn
núi sừng sững của suy tư. Sự nông cạn và
dễ dãi chỉ có thể sản xuất ra nhiều mớ bung xung của chữ nghĩa, nhưng sẽ chẳng
bao giờ có đất đứng trong văn chương.
Biển kiến thức và con đường ý thức
nhân loại khởi đi một cách êm đềm từ những đầu óc “uyên áo” như: Socrate, Platon, Aristote, Kant, Bergson,
Spinoza, Schopenhauer, Augustine... bỗng gặp những ý hướng ly khai và những tâm
hồn nổi loạn của Dostoievski, Camus, Sartre, Faulkner, Gide... đón đường tung
hô và đập phá. Dostoievski khắc khoải và
trăn trở trong một bối cảnh quê hương đang chuyển mình đau nhức; Camus kêu lên
cho nỗi đau đớn của kiếp người; Sartre gào la thống thiết cho sự tan hoang về
những giá trị vật chất và tinh thần của một thế giới gần như tuyệt vọng;
Faulkner cuồng nộ trong tiếng gọi khẩn thiết của nhân sinh... và cả một trào
lưu văn nghệ vừa vuốt vừa đập, vừa trân trọng vừa chối bỏ, và bão liệt hơn cả
là trùng trùng dẫm trên những lối mòn quen nằm yên trong sương nắng của thế kỷ
18, 19 để xua quân vào sâu, rất sâu, tận những chân trời mới lạ và sâu thẳm của
ý thức khai phá trong văn nghệ và triết học thế kỷ 20!
Trong khi nền văn học Tây Phương
đang chuyển mình dữ dội: Từ tĩnh sang động; từ bề mặt sang bề sâu; từ sự chấp
nhận và thỏa hiệp dễ dãi sang thái độ đương đầu, phân tích và luận lý có khi
tới mức độ bất chấp thì ở Việt Nam, văn chương vẫn còn tiến những bước êm đềm
theo khung cảnh của một xã hội nông nghiệp.
Trước 1945, học giả Phạm Quỳnh khi “Khảo Về Tiểu Thuyết” vẫn còn khuyên
các nhà văn theo cách kết cấu cổ điển của Pháp:
“Nếu kết cấu không thành truyện thì dẫu văn chương có hay đến đâu cũng
không cảm được người đọc”. Và sau 1945,
ông Đặng Thai Mai trong “Văn Học Khảo Luận” lại lên tiếng: “Một áng danh văn
bao giờ cũng hỗn hợp được hai phần tử bổ ích và làm vui”! Bởi vậy cả một trào lưu văn học Việt Nam
trong khung cảnh thế kỷ 20 vẫn chưa thoát khỏi tình trạng loay hoay biến những
tác phẩm văn chương thành những tập chuyện kể.
Hoặc có tiến xa hơn nữa thì cũng loanh quanh trong giới hạn “Tiểu thuyết
tâm lý xã hội tình cảm” lâm ly ướt át, vô thưởng vô phạt... khá phổ biến ở miền
Nam; hay khuynh hướng “Hiện thực phê phán” sáo mòn và đồng phục, thiếu sức bật
được chỉ đạo ở miền Bắc trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Việt Nam và kéo dài lê
thê sang thế kỷ 21!
Trước
thực trạng “Ở nhà nhất mẹ nhì con, ra đường lắm kẻ săn giòn hơn ta” hay “Thùng
thùng cha hát con khen, đất ta lên giọng ho hen xứ người!” chúng ta cần có
những phút lắng lòng chân thành nhìn lại chính mình và gia tài tri thức của tổ
quốc mình.
Trong lãnh vực văn chương, Việt Nam
ta không thiếu nhân tài, nhưng thiếu mất một hệ thống triết lý truyền thống làm
nền móng cho nếp suy nghĩ của dân tộc và thiếu hẳn một tinh thần phiêu lưu,
khai phá và phản kháng trong sáng tạo.
Nhìn lại nền văn học Lý Trần và Lê Nguyễn cổ điển, chúng ta chưa thoát
ra khỏi hệ tư tưởng của Trung Hoa và Tam Giáo (Nho, Thích, Lão). Những tài năng ưu tú của dân tộc trong dòng
văn học Hán Nôm đã chứng tỏ khả năng ưu việt trong sức sáng tạo và diễn đạt
ngôn từ, nhưng vẫn chưa thoát ra khỏi cái vòng “kim cô” nghiệt ngã của văn
chương Trung Hoa về hệ thống tư tưởng và nề nếp suy tư. Một tài năng phiêu dật và hoa gấm trong ngôn
ngữ thi ca như Nguyễn Du vẫn không vượt thoát được thế giới tư tưởng giới hạn
của Thanh Tâm Tài Nhân trong một tác phẩm tiêu biểu cho niềm tự hào dân tộc như
Đoạn Trường Tân Thanh.
Viễn ảnh giải Nobel Văn Chương cho giới văn bút Việt Nam
Có dịp theo dõi “Những Mùa Thu
Nobel Văn Chương”, mỗi chúng ta đều hướng mắt nhìn về khả năng tương lai của
một giải Nobel văn chương cho nhà văn Việt Nam.
Trong năm nhà văn đọat giải Nobel
Văn Chương trong vòng 5 năm qua vừa trình bày ở phần trên thì tất cả 5 nhà văn
nầy đều là những kẻ bị lưu đày cả theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Gunter Grass (1999), gốc Ba Lan di
dân về Đức, sáng tác bằng tiếng Đức. Cao
Hành Kiện (2000), người Trung Hoa, qua sống ở Pháp, viết văn bằng tiếng
Tàu. V.S. Naipaul (2001), người gốc Ấn
Độ, sinh sống ở Anh, viết bằng tiếng Anh.
Imre Kertesz (2002), người gốc Do Thái, cư ngụ ở Hung Gia Lợi, viết văn
bằng tiếng Hungary. Và J.M. Coetzee
(2003), người Nam Phi, cư trú tại Úc, dạy học tại Mỹ và viết văn bằng tiếng
Anh.
Thực tế nầy đã giải tỏa định kiến cho
rằng, giải Nobel là sản phẩm Tây Phương, nên kỳ thị sản phẩm văn chương không
phát xuất từ Phương Tây, cả trong nguồn gốc xuất thân của tác giả và ngôn ngữ
sử dụng trong tác phẩm. Và cũng chính
thực tế nầy cho thấy rằng, những nhà văn phản kháng thế lực chuyên quyền và áp
bức; những nhà văn lưu cư và bị lưu đày, bị bứng ra khỏi nguồn cội quê hương
thường đã mang cái “chủng tử” của một nhà văn lớn. Nhưng môi trường văn hóa và xã hội nào để cho
“chủng tử nhà văn lớn” được nẩy mầm, đơm hoa kết trái thành cây đại thụ văn
chương?
Khi nói đến nền văn chương và triết
học Tây Phương, người ta có khuynh hướng nhắc đến Âu và Mỹ. Hai nước đại biểu
cho Âu và Mỹ có bối cảnh văn chương, truyền thống văn hoá, nền móng triết học
hoàn toàn khác nhau là Pháp và Hoa Kỳ. Điểm đáng chú ý là về “tuổi tác” của hai
nước: Nước Pháp tính từ thời bộ tộc
Celts, đã ngót 3.000 tuổi thọ; trong khi Mỹ lập quốc chỉ mới 300 năm. Pháp là chiến nôi văn chương của Châu Âu,
trong khi Mỹ là chiếc nôi kỹ nghệ của Phương Tây, nhưng điều lý thú là tỷ số
các thi tài và văn tài đọat giải văn chương Nobel của hai nước lại ngang nhau.
Pháp chiếm 12 giải : Prudhomme (1901), Mistral (1904), Rolland (1915), France
((1921), Bergson (1927), Gide (1947), Mauriac (1952), Camus (1957), Perse
(1960), Sartre (1964), Bekett (1969), Simon (1985).
Mỹ cũng chiếm 12 giải văn chương Nobel ngang hàng vớp Pháp trong suốt
100 năm qua: Lewis (1930), O'Neil (1936), Buck (1938), Faulkner (1949),
Hemingway (1954), Steinbeck (1962), Bellow (1976), Singer (1978), Milosz
(1980), Brodsky (1987), Walcott (1992), Morrison (1993).
Cũng trong suốt một thế kỷ văn học
với giải Nobel này thì Anh được 7 giải, Đức được 6 giải, Liên Bang Sô Viết được
4 giải và trong số 4 giải này thì riêng Nga chỉ được một giải của Ivan Bunin
năm 1933.
Như vậy, yếu tố nào đã khiến Mỹ là
kẻ “ăn sau chạy dọi” lại tạo được một ưu thế văn chương như thế? Các nhà nghiên cứu văn học thế giới đưa ra
nhiều luận điểm khác nhau về câu hỏi này.
Nhưng tựu trung có những điểm chính sau đây:
Về văn hóa: Mỹ là một quốc gia hợp
chủng nên văn hóa Mỹ là một văn hóa hợp chủng.
Sự “thuần nhất” của Mỹ lại chính là sư đa dạng và sự dung hợp tất cả mọi
khuynh hướng đa dạng và khác biệt đó thành một sức sống mới mang tính thực tế,
nặng lý tính và mày vẻ cá nhân. Mỹ không
có một hệ thống triết lý dân tộc riêng, nhưng lại là một môi trường thuận lợi
để “tập đại thành” và dung hóa những trào lưu triết học và văn học thế giới để
tạo thành một triết lý “Duy Mỹ” (Americanism, chứ không phải Aestheticism).
Về văn nghệ: Hoàn toàn tự do trong
sáng tạo. Người nghệ sĩ không bị khống
chế bởi bất cứ những tiêu chí, yêu cầu hay chỉ đạo nào ngoài chính tài năng, tư
duy và sự chọn lựa của riêng mình. Chỉ có người thưởng ngọan nghệ thuật, độc giả
và thời gian là sự thử thách ghê gớm nhất đối với người nghệ sĩ; là thước đo,
là sự đánh giá chuẩn xác nhất giá trị của tác phẩm nghệ thuật.
Từ xa, nhìn về tổ quốc, bất cứ đứa
con Việt Nam tha hương nào cũng mang nhiều ước vọng cho một tương lai tươi sáng
của quê cha đất tổ mình. Có những hiện
thực mà khi còn ở quê nhà mình mặc nhiên chấp nhận, nhưng khi sống ở xứ người,
tiếp cận với những nhóm dân tộc khác, lại trở thành câu hỏi. Mấy ai đang ở trên quê hương lại tẩn mẩn băn
khoăn tự hỏi: “Ta là ai giữa vùng đất nầy?” hay “Ta là người Việt Nam, có nề
nếp suy tư, có phong cách cuộc sống khác với những người Tàu, Tây, Nhật, Thái,
Miên, Lào, Nga, Mỹ... quanh ta như thế nào?”
Văn hóa và phong tục tập quán Việt Nam đang nhạt dần trước nhu cầu cuộc
sống đòi hỏi phải dấn thân, phải điều chỉnh, có khi phải đồng hoá hay bị đồng
hoá với xã hội mới để sống còn. Duy nhất
chỉ còn ngôn ngữ và văn chương là những thành lũy Việt Nam còn đứng vững được
để xác lập, để định nghĩa Ta-Việt-Nam là ai và Việt-Nam-Ta là gì!
Dòng văn học học hải ngoại, do đó,
không chỉ là một hình thái tiêu khiển, một món ăn tinh thần như khi còn ở quê
nhà mà còn là một “căn cứ địa” cuối cùng của bản sắc Việt Nam cho hôm nay và
cho thế hệ tương lai trong mối tương quan đa chủng tộc và giữa lòng thế giới.
Một cách vô hình trung, văn chương
Việt Nam có hai dòng văn học: Dòng văn
học Quê Nhà và Dòng văn học hải ngoại.
Nhận định tổng quan về yếu tính của hai dòng văn học, ông Hoàng Hải viết
trong báo Thế Sự (09-03) rằng: “ Thực tế
và kinh nghiệm Việt Nam qua cuộc chiến tranh trường kỳ và gian khổ nhất trong
lịch sử thế giới cận đại là cả một gia tài tư liệu khổng lồ và cảm hứng chất
ngất cho giới văn bút Việt Nam. Thế
nhưng đã 30 năm trôi qua mà vẫn chưa có một tác phẩm văn chương nào phản ánh hiện
thực lịch sử và đất nước, con người Việt Nam xứng đáng mang tầm cỡ quốc
tế. Dòng văn học nội địa có vẻ như thiếu
bắp thịt để xiển dương nội lực cho sự hình thành một tác phẩm văn chương gây
được sự hâm mộ của cộng đồng văn bút quốc tế. Còn dòng văn học hải ngoại thì
dường như bị thiếu máu nên phần lớn những tác phẩm văn thơ ra đời kể lể than
van bao sự cố đã thành cố sự, chưa gây được sự chú ý của giới văn bút Âu, Mỹ...
Nếu đem so với những nhà văn, nhà thơ thế giới đã chiếm được hay được đề bạt
giải Nobel thì giới văn bút Việt Nam ta lại vừa gần vừa xa: Gần vì cũng có tài năng văn chương như ai;
nhưng xa vì phần lớn viết theo kinh nghiệm 'khôn vặt' dễ dãi hơn là sự từng
trãi đi xa hiểu rộng kết hợp với nỗ lực tìm tòi, nghiên cứu khách quan và có hệ
thống giáo khoa cơ bản.”
Theo dõi sinh hoạt văn học nghệ
thuật trong nước và ngoài nước, bên cạnh giới văn nghệ đàn anh phần đông đã mỏi
mệt, hoặc đang sống bằng ảo ảnh một thời vang bóng, sáng tác cầm chừng theo
trung bình chủ nghĩa, thì giới văn bút trẻ thuộc thế hệ đàn em sau chiến tranh
Việt Nam đang vươn lên. “Lực lượng sáng
tác” thật sự có tài năng là điều quan trọng cốt lõi đã đành, nhưng khung cảnh
và hoàn cảnh sáng tác cũng đóng một vai trò thiết yếu để cho những tác phẩm văn
chương lớn ra đời. Trong nước, ai chịu
trách nhiệm về khung cảnh và hoàn cảnh sáng tác hiện tại? Ngoài nước, khung cảnh sáng tác mang tính tự
phát nên mỗi con người văn nghệ chịu trách nhiệm với chính mình trong sáng tạo.
Các tác giả thắng giải Nobel văn
chương trong 5 năm qua, như đã trình bày ở trên, đều có chung một hoàn cảnh
sáng tác hơi na ná giống nhau: Đấy là tâm thức bị lưu đày nơi quê người hay
chính trên quê hương của mình và ý thức phản kháng kết hợp với khuynh hướng
hướng thiện và lý tưởng cải tạo xã hội làm động cơ thôi thúc sáng tạo.
Và đấy cũng chính là ước vọng cháy
bỏng của kẻ di dân thời hậu chiến, vì hoàn cảnh phải sống tha hương nhưng luôn
luôn quay quắt đi tìm lại gốc gác của mình. Họ đã trộn lẫn chất liệu từ một quê
hương xa cũ trên vùng đất của tổ tiên, kết hợp với tri thức và kinh nghiệm của
những gì đang sống để sáng tạo. Những
nhà văn, nhà thơ Việt Nam hiện đại ở quê nhà và rãi rác trên khắp năm châu đã
và đang trải qua nhiều hoàn cảnh và kinh nghiệm sống thực khác nhau. Nhưng
trong sáng tạo, một nghệ sĩ chân chính dù đang ở trên quê hương hay trở thành
công dân nước khác vẫn có sự gắn kết thiết thân với quê hương nguồn cội của
mình như trường hợp Joseph Brodsky (Nobel 1987) từ Nga qua Mỹ, Elias Canetti
(Nobel 1981) từ Bungary qua Anh, Czeslaw Milosz (Nobel 1980) từ Ba Lan qua Mỹ,
Cao Hành Kiện (Nobel 2000) từ Tàu sang Pháp, V.S Naipaul (Nobel 2001) từ Ấn qua
Anh...
Văn chương khác với kinh tế và kỹ
thuật vì không có hiện tượng phồn vinh đột biến. Không thể có người tháng trước làm thơ con
cóc, bỗng tháng sau thi tài phát tiết như Nguyễn Du trong văn chương. Sáng tạo văn chương là một quá trình tiệm
tiến. Những nhà văn lớn đều lấy thời
gian cả cuộc đời mình để vun đắp cho bề dày, bề cao và bề rộng của sự nghiệp
văn chương.
Bởi vậy khi nói đến một viễn ảnh về
giải văn chương Nobel cho giới văn bút Việt Nam khó mà khẳng định thời điểm và
con người. Trong 30 năm qua của thời hậu chiến Việt Nam, chúng ta chưa có một
nhà thơ hay nhà văn nào là đương kim “siêu sao văn chương” cho thế giới người
Việt, nói chi đến viễn ảnh xa xôi của thế giới con người.
Người Việt vẫn thường tự hào mình
là một dân tộc thi ca. Mong rằng, “Viễn
Ảnh” tuy mơ hồ, nhưng là niềm hy vọng chứ không phải là ảo tưởng.
Sacramento, mùa Giáng Sinh 2003