Về Huế
Mẹ già như chuối bà hương,
Như xôi nếp mật như đường mía lau.
Chiều chiều xách rổ hái rau
Ngó về quê mẹ ruột đau chín chìu .
(Hò ru em)
|
M |
ỗi lần nghĩ đến Huế, tôi không
biết mình đang về với Huế hay Huế đang về trong tôi.
Những con nhà Huế khác, thường
nhớ Huế với nguồn tình cảm miên man, sụt sùi và sướt mướt, nhưng Huế riêng tôi
vừa là quê mẹ đi để mà nhớ, vừa là di lụy trong suốt cả một đời. Khi tôi đi giữa Huế thì khơi vơi như đang
lạc giữa quê người; khi tôi đi giữa xứ người lại ngỡ ngàng như đang xăm xăm
bước vô Thành Nội. Khi tôi cố quên Huế thì Huế lại hiển hiện trong tôi, dịu
dàng như một bà mẹ hiền và bâng khuâng như người tình cũ cười ngậm ngùi vì chợt
nhớ về dĩ vãng. Khi tôi nhớ Huế thì Huế chỉ còn là một bóng dáng êm đềm mất hút
rất xa xăm.
Nếu
không có năm 1975, có lẽ suốt đời tôi sẽ không biết rõ Huế đã về trong tôi tự
bao giờ, một cách âm thầm nhưng tự nhiên và mãnh liệt như nỗi đau khi nửa đêm ở
Mỹ, nghe điện thoại báo tin mẹ mình vừa mất ở quê hương. Không có năm
Năm
1992, tôi Về Huế sau 10 năm xa cách.
Hình
như trong tình cảm Việt Nam, mỗi mười năm là một đơn vị thời gian đo lường sự
thử thách, lòng chung thủy, sức gắn bó, cách nhìn đời, lối suy nghĩ của một
người bình thường trong tình đời, tình người, tình yêu, tình bạn và tình cố xứ
xa xăm. “Mười năm không gặp tưởng chừng như đã...” Có khi đã tan tác như mười
năm của Vũ Hoàng Chương:
Tay
gõ vào bia mười ngón rập
Mười
năm theo máu hận trào rơi
Học
làm Trang Tử thiêu cơ nghiệp
Khúc
Cổ bồn ca gõ hát chơi
- Thưa
quý ông, quý bà,
Tôi
là trưởng phi công Chang. Trong vòng 15 phút nữa, máy bay sẽ đáp xuống phi
trường Tân Sơn Nhất, Việt Nam. Thời tiết hôm nay là 90 độ F, gió Tây Nam 25 dặm
mỗi giờ...
Sau
thông báo của viên hoa tiêu điều khiển chiếc máy bay Philippines Air Lines, tôi
bỗng choàng sực tỉnh: Trời ơi! tôi đang về Việt Nam, tôi đang về Huế! Ðã 10 năm
Huế sống trong tôi nhưng chỉ lãng đãng và mơ hồ như một cơn mộng du thôi. Chừ
dưới cánh máy bay là quê hương tôi, là Việt Nam, là Huế đó. Tôi soát xét lại
giấy tờ. Cái thẻ thông hành mới toanh tôi vừa xin tháng trước, sau khi được
chấp nhận và tuyên thệ vào quốc tịch Mỹ, hiện rõ nét như một thoáng tự tin cay
đắng: Nationality/ Nationalité: United States of America - Quốc Tịch: Hoa Kỳ.
Tôi kêu lên nho nhỏ: Mẹ ơi! Và bỗng dưng muốn được ôm mẹ mình oà lên khóc.
Tôi sợ phải nhìn lại bóng mình trong đó. Thằng con xứ Huế một thuở hào khí ngất
trời sao ba mươi năm sau lại biến thành công dân nước Mỹ vì quê hương và lịch
sử đã sang trang. Tôi đã cố nán lại suốt mười năm không vào quốc tịch Mỹ. Nhưng
bên kia có tiếng gọi của mẹ già, bên nầy có bàn tay âu lo níu kéo của gia đình
và trách nhiệm. Tôi phải chọn lựa: “Muốn về Huế thăm mạ, anh phải vô quốc tịch
Mỹ trước đã em mới dám để anh đi. Lỡ họ có bắt anh lại, em còn dựa vào chính
phủ Mỹ để tranh đấu cho anh qua”. Quê hương ơi! Tha thứ cho tôi. Lòng chung
thủy đành cúi đầu để sống. Tôi muốn sống trọn vẹn cho quê hương, nhưng cũng
phải sống cho tôi và sống cho những cuộc đời khác nữa. Khi giữa những người anh em đã hết tin nhau thì lý thắng
tình, cái đầu lạnh lùng sẽ mọc trên
trái tim nồng cháy.
-
Thầy! Thầy ơi! Răng thầy tội rứa?
Vừa
nói, người thanh niên vừa giành lấy cần bẩy trên tay tôi để thay giúp vỏ xe.
Sau đó, tôi tìm hiểu thêm và biết đây là Thắng, người học trò cũ trường Nguyễn Tri
Phương đã nghỉ học đi thanh niên xung phong mới về thăm nhà. Tôi không dám nhìn
thẳng vào mặt Thắng vì sợ bắt gặp ánh mắt thương hại, trong khi Huế đã dạy tôi
rằng, hãy thương mến hay thương yêu, đừng thương hại. Nếu tình huống nầy xẩy ra
bất cứ ở đâu ngoài Huế, có lẽ tôi sẽ thấy bình thường. Nhưng cái xứ Huế quê mẹ
của tôi không phải là đất dung thân cho những đứa con bị đời xé toang rách nát,
phải cúi mặt gục đầu. Tôi bị đuổi dạy
ra khỏi trường Ðồng Khánh vào mùa tựu trường năm 1977 chỉ vì muốn yêu mình và
quê hương theo cách riêng của mình, không chịu dễ dãi hòa vào đám đông. Khi cầm quyết định thải hồi trên tay, đôi
mắt thương hại nhìn tôi gần như muốn khóc đầu tiên trên sân trường phượng đỏ là
đôi mắt của anh Châu Trọng Ngô. Từ ấy,
tôi không dám nhìn Huế, không dám nhìn bạn bè phường trên xóm dưới. Hai đứa cãi
nhau là cãi lộn; hai đứa gây nhau là gây bậy, không có cãi đúng, không có gây
phải. Cả hai đều đáng tội đánh đòn, quỳ
xơ mít, không cần giải thích lôi thôi. Huế của tôi là thế đó. Huế kỳ cục. Huế dạy cho tôi dám nhìn thẳng nhưng đừng
nhìn ai khi sa cơ thất thế cho đến khi vươn lên trong cô đơn và tự đứng vững
trên đôi chân cứng cáp của chính mình.
Huế đài các. Huế bắt tôi phải
ray rức vì không được làm thầy với đồng lương giáo sư đệ nhị cấp 75 đồng mỗi
tháng hơn là lái xe Lam kiếm được cả mấy trăm bạc một ngày hay buôn bán ở chợ
trời kiếm bạc ngàn mỗi lần “trúng mánh”.
Sài Gòn, Hoa Thịnh Ðốn, Nữu Ước, Ba Lê và có lẽ cả Hà Nội nữa, không
hiểu nổi và sẽ chế nhạo cái lý tưởng lãng đãng khói sương và thiếu thực tế của
Huế.
Huế
ơi! Huế khó khăn như một bà già trầu. Huế thích nghe chuyện Ði Chùa Hương của
thiên hạ, nhưng lại không thích con gái của mình mới 15 tuổi đã “lưng đeo giải
yếm đào, quần lĩnh áo the mới...” như cô bé đi chùa Hương trong Truyện Ngày Xưa
của Nguyễn Nhược Pháp.
Huế
cũng khó khăn như một ông già nệ cổ, thích con mình thà đậu tú tài mà về làm
thuê còn hơn là lên hàng phú ông mà đánh vần xuôi chưa được, vần ngược
chưa xong.
Huế
lãng mạn bão liệt như sóng ngầm, nước xoáy. Huế trân quí chị Hoàng Thị Kim Cúc,
người yêu đầu đời của Hàn Mặc Tử, một nàng thơ, một giáo sư độc thân suốt đời
của trường Ðồng Khánh. Cứ yêu một người. Im lặng. Chịu đựng. Nhắm mắt xuôi tay,
ra đi trong cô đơn như người yêu của mình. Huế cười nửa miệng kiêu bạc với
Jacqueline Kennedy, một đệ nhất phu nhân tiếng tăm lừng lẫy, lại đi tái giá với
vua tiền Onassis.
Huế
ơi! Huế không công bằng chút nào hết!
Tôi
đang trở về với mảnh đất “không công bằng” đó.
Huế
đối với tôi là Bà Mẹ Quê của tôi. Mẹ tôi tuổi 90, da mồi tóc bạc, là Huế, là
một phần linh hồn tổ quốc của tôi. Tôi chưa có đủ bản lãnh tình cảm để tưởng
tượng ra rằng, ngày tôi về quê không có Mẹ.
Chiếc
máy bay lượn vòng, xuống thấp, xé rừng mây trắng như bông để vào vùng trời Việt
Nam. Từ sau khung cửa hẹp, bờ biển quê hương cong cong, nước xanh viền cát
trắng hiện rõ dần. Xa tít mù dưới kia là sông núi ruộng đồng của nước tôi.
Những con đường mòn mang đầy tình tự và những mái nhà tranh ấp ủ thương yêu...
Tôi nghe như có tiếng thổn thức đâu đây của cậu bé An Di thuở Tâm Hồn Cao
Thượng của Edmond De
Tiếng
vỗ tay của những kẻ tha hương về cố xứ nổi lên khi bánh máy bay vừa chạm xuống
phi trường Tân Sơn Nhất. Ðã nhiều lần đi trên chiếc Boeing 727, bánh chạm đất
từ Huế vào Sài Gòn hồi trước năm 1975, tôi chưa bao giờ có được một phần ngàn
cái cảm giác nao nức như bây giờ.
Sài
Gòn tháng 12 nhiều nắng quá. Tôi cố thản nhiên mà vẫn run. Rời máy bay, đi bộ
tới chiếc xe buýt đang chờ, thật tình tôi
Tôi
lại đi lang bạt giữa đường phố Sài Gòn như những chiều bát phố ngày xưa. Một
cảm giác “thuộc về” làm tôi thoáng ngỡ ngàng và cảm thấy lòng mình ấm
lại. Tôi thuộc về vùng đất nầy và vùng đất nầy cũng thuộc về tôi như cụm rau
muống thuộc về cái ao và cái ao thuộc về cụm rau muống, trôi sông lạc chợ về
đâu cũng vẫn không quên ngoái về chân trời cũ. Nơi đó có những khuôn mặt má hóp
thân quen; nơi có tiếng nói thô thiển hay bóng bẩy đến cỡ nào tôi cũng hiểu
được; nơi không ai nhìn tôi như một người xa lạ; nơi có những bác phu xe già
cũng khật khà nói chuyện vui tai.
Ðã bao năm rồi tôi mất cái cảm giác “thuộc về” khi bước đi dửng
dưng giữa những thành phố nguy nga, đồ sộ, tân kỳ của nước người. Cho dù sống
mười năm hay vĩnh viễn một đời cũng khó mà thuộc về một đất nước nào khác trọn
vẹn như ở trên chính quê hương đất nước của tôi.
Ði
qua nhà thờ Ðức Bà, nghe tiếng chim sẻ thật thân quen tôi bỗng bật cười khi nhớ
bé Quan Thư có lần hỏi: “Con chim sẻ của Mỹ có hiểu được tiếng kêu của con
chim sẻ Việt Nam không ba hè?”. Bên
trời Cali ngày đó tôi ngậm ngùi yên lặng, nhưng nếu giữa trời Sài Gòn hôm nay
tôi cũng sẽ ngậm ngùi trả lời rằng, những con chim sẻ chắc sẽ hiểu nhau vì
tiếng nói của nó là tín hiệu. Chỉ có tiếng nói của con người là nhiều khi khó
hiểu nhất vì nó không chỉ đơn thuần tín hiệu mà còn là vũ khí của tình cảm và
tư duy. “Khi vui tiếng nói cũng vui. Khi buồn ca xướng à ơi cũng buồn.”.
Khi thù hận, ngôn ngữ trở thành tiếng
rít của cuồng phong làm kinh động bầu trời âm thanh nguồn cội của con người từ
buổi nguyên sơ. Ngôn ngữ mà vắng bóng tâm tình và yêu thương thì rất dễ
Cũng
chiều nắng như thế nầy mà khi đi giữa đại lộ số 5th của Nữu Ước tôi thấy mình nghèo
xơ rơ và lạc loài như kẻ không nhà, ngực đè nặng vì bị bao vây bởi những tòa
nhà chọc trời cao ngút mắt. Sự giàu sang, hoa lệ vẫn là của họ. Chiều nay đi
giữa đường phố Lê Lợi, Sài Gòn, tôi lại cảm thấy không giàu mà cũng chẳng nghèo
nhưng thanh thản như đang đi vào khu vườn cũ nhà hương hỏa của tổ tiên mình để
lại, không nguy nga tráng lệ thì cũng của mình.
Lượng
người và xe hai bánh trên đường phố Sài Gòn cuồn cuộn khắp các con đường lớn
phức tạp như những giòng nước lũ đầu mùa mưa. có lẽ không có thành phố lớn nào
trên thế giới xe và người lại cặp kè, chạm nhau gần gũi đến mức có thể “thiến”
mất giò của nhau lúc nào không hay. Sài Gòn thời nào cũng dễ dãi, cởi mở một
cách đáng yêu như bản chất xuề xòa và nhân hậu của người dân miền Nam. Bởi vậy,
người phương xa tới ở thường dễ bị “Sài Gòn hóa”.
Sài Gòn với những chiếc xe lộng lẫy, trị giá
hơn cả một đời tiền lương của một nhà giáo bình thường, chạy vi vu bên cạnh
những người đói rách, lây lất kiếm ăn vỉa hè, xó chợ đã phản ánh sự tương phản
và vô tình của kiếp người, của những thành phố kỹ nghệ và thương mãi lớn trên
thế giới. Paris, Chicago, New York, Houston, San Francisco, Los Angeles... cũng
thế. Cũng những dãy xe Roll Royce, Mercedes... lộng lẫy giá hàng trăm nghìn
đô-la chen bánh với những cỗ xe bò-ệt cho không chẳng ai buồn lấy. Cũng lây lất
đây đó trên những ngã ba, ngã tư đường cái vẫn có người đứng trong nắng, mồ hôi
nhễ nhại với tấm bảng giấy bìa nhàu nát có ghi hàng chữ: “Hungry! Need Work
for Food”- Ðói! Cần làm việc kiếm thức ăn. Chỉ khác một điều là ở Mỹ tuổi
vị thành niên mà thất học và kêu đói thì không chấp nhận được vì toàn xã hội đã
đồng thuận đi làm, cong lưng đóng thuế để nuôi bất cứ đứa trẻ nào cha mẹ thiếu
khả năng hay không nơi nương tựa được ăn học đầy đủ cho đến khi trưởng thành.
Những em bé mồ côi trở thành những chuyên gia ưu tú, những công dân ngoại hạng
là chuyện bình thường như sinh họat hàng ngày trên đất Mỹ. Trong những tiếng
kêu quặn lòng của Việt Nam trong thế kỷ nầy vẫn còn man mác tiếng rao, tiếng
mời, tiếng xin nhỏ nhắn, dễ thương nhưng ẩn chứa một chút gì xót xa của các em
bé bán vé số, đánh giày, bán hàng rong trên các nẻo đường đất nước.
Mười
lăm năm, dài bằng cả thời gian luân lạc của Thúy Kiều, tôi mới trở lại con
đường bộ xuyên Việt của quê hương. Lần chót tôi đi trên con đường nầy vào mùa
Ðông năm 1977 là một xã viên dự bị của hợp tác xã xe Lam Huế vào Hạnh Thông Tây
mua vỏ xe cho anh em tài xế xe Lam trên các tuyến đường của Huế. Lần nầy tôi
trở lại con đường nầy là một đứa con xa quê về thăm mẹ.
Chiếc
“mini van Mazda” 12 chỗ ngồi của Nhật mang anh chị Hồi, người thân và
Người tài xế trẻ tuổi có vẻ mệt
mỏi và đề nghị ở lại đây qua đêm vì anh ta bị cảm sốt bất thình lình. Những
người khác trên xe im lặng vì không có sự lựa chọn nào khác, riêng tôi thì ngỏ
ý tình nguyện lái xe. Không ai phản đối nhưng cũng chẳng có ai tỏ ý yên lòng.
Nhìn anh tài xế vẻ mặt đăm chiêu ngờ ngợ, tôi cười, trấn an:
-
Tôi lái xe hơn 10 năm rồi. Anh cứ yên tâm đi, để tôi lái
cho.
Lái
xe trên đường Việt Nam khó khăn và nguy hiểm hơn lái xe trên xa lộ của Mỹ
Tôi
ghé Ðà Nẵng để thăm anh Thiện, chị Hằng và các cháu. Tôi về không báo trước nên
anh Thiện ngỡ ngàng ôm tôi bằng một tay nắm chặt như sợ biến mất, một tay sờ
quanh từ dầu đến vai mà cứ hỏi sững sờ:
-
Ðây là thiệt hay mơ?
o0o
Vẫn
trên con đưòng quốc lộ 1 từ Huế ra An Hòa, Triều Tây, Quán Rớ, rồi tới cột trụ
cây số 9 rẽ về làng tôi, làng Liễu Hạ nằm bên cạnh con sông Bồ nhỏ nhắn xinh
xinh uốn khúc từ Trường Sơn về Nam Hải.
Tháng
Chạp, cuối mùa Ðông, những con đường quê quanh Huế nằm lặng trong bùn. Con đường
“Nhứt” dẫn vào làng tôi cũng lênh láng bùn đất và lầy lội trong mưa phùn. Ngày
xưa đi học trường xã tôi phải lội qua con đường nầy ngày hai buổi. Mơ ước lớn
nhất của tôi thời đó là ước gì có được cái áo mưa để thay cho cái tơi chằm bằng
lá ngắn quá đầu gối. Ðuôi lá tơi vấy bùn trở thành xù xì và sắc nhọn như lưỡi
dao cứa vào bắp chân lâu ngày thành ghẻ lở.
Tôi
cởi đôi giày không phải vì tiếc đôi giày Macyõs sẽ bị vấy bùn mà vì muốn đôi
chân trần của mình được lội lại trong bùn đất của làng tôi. Bùn mát lạnh như
bàn tay của mẹ đặt lên trán con trong những lần nóng sốt. Tôi lập lại động tác
bấm mấy đầu ngón chân để bấu vào đất cho khỏi trợt. Lâu lắm rồi chân không dính
đất nhưng những lỗ chân lông trên đầu tôi vẫn bạc dấu phèn. Tôi nghe mưa lâm
thâm chảy dầm trên má lẫn với giòng nước ấm làm mặn môi mình.
Này
khôi, này giáp, này đao mã,
Này
hốt, đai, hia, mảnh ấn hầu:
Tất
cả mẹ ơi ! Ðây: Tất cả!
Làm
sao đổi được tấm tình sâu.
Làm
sao đổi được một lần thôi:
Manh
áo nghìn xưa ủ chút hơi,
Khi
uống say trong bầu vú mẹ,
Cả
nguồn sống ấy mẹ hiền ơi!...
(Trần Huyền Trân)
Mẹ
tôi vẫn ngồi đó, trên chiếc giường gỗ kiền kiền còn vết cháy xém trong vụ Tây
đốt nhà cả làng hơn 40 năm về trước. Tôi nhảy chân sáo lên thềm nhà xi măng mát
lạnh. Người rất đông nhưng hình như tôi không thấy ai cả, chỉ thấy mẹ tôi ngồi
lặng lẽ bên khung cửa sổ chếch ánh đèn dầu. Tôi nhào tới mẹ, nhưng bỗng chững
lại như ngọn sóng trào tung vào núi đá. Hình ảnh tiểu thuyết ngày gặp mẹ mơ hồ
trong tôi là sự mừng mừng, tủi tủi của đứa con xa xứ trở về, rúng động trong
tiếng kêu quặn lòng đầm đìa nước mắt đã không xảy ra. Mẹ tôi vẫn ngồi im lặng,
đôi mắt mờ đục nhìn đâu rất xa và đậu trên khuôn mặt tôi, sáng lên, rỡ ràng,
câm nín. Tôi nhẹ nhàng cầm tay mẹ. Cườm tay xương xẩu chỉ còn da bọc xương. Tôi
có thể nghe cả nhịp tim mẹ đập rộn ràng qua những đường gân tay của mẹ nằm
trong tay tôi. Tôi không cảm thấy một khoảng cách nào giữa mẹ và tôi sau mười
năm xa cách:
-
Mạ, con về đây nì!
Ðó
là tất cả những gì tôi có thể nói với mẹ. Mẹ tôi hỏi, giọng bình thản như thể
tôi mới trở về sau buổi chiều tan học ở trường làng:
-Con về
rồi à?
Rồi
như nhớ ra điều gì, mẹ tôi gọi chị tôi:
-
Thuyền ơi! Lấy cá kho ruốc lên cho em ăn cơm con!
Tôi
nghe có tiếng cười khúc khích của bà con và lời nhận xét:
-Mụ lẫn
rồi!
Tôi
áp má mình lên bàn tay khô khan của mẹ. Mẹ tôi có thể đã lẫn giữa cuộc đời trần
thế nầy, nhưng với tôi thì không. Giòng suối thương yêu của mẹ đã chảy xuống
đời tôi trong bao năm. Giòng suối không bao giờ khô cạn nhưng những lớp rong
rêu, hoa đá phù vân đã mòn nhẵn, chỉ còn cái lõi tinh anh và giòng nước cứ luân
lưu kết thành một kỳ quan vĩ đại nhất: đó chính là trái tim của mẹ.
Ngồi
hơ chung cái lồng ấp với mẹ trên chiếc giường nằm nguyên một góc nhưng già hơn
tuổi đời tôi, hình như mẹ và tôi đều không thấy gần gũi hơn bao nhiêu so với
khi mẹ còn phương Ðông, tôi ở phương Ðoài, xa lắm!
Trong
hai trời riêng tư, có một cõi chung là tình thương không biên cương của mẹ.
Mỗi buổi
sáng, mỗi buổi tối, mỗi buổi chiều, trước giờ đi ngủ, mẹ đều có tôi trong tim
khi mẹ lâm râm cầu khấn Phật, Trời cho thằng con trai út chân cứng đá mềm. Tôi
cũng có mẹ trong cùng thẳm đáy lòng mình vào mỗi sáng, mỗi chiều trên biển tím
Hải Nam sâu hơn 30 sải nước với sóng cuồng, gió giật, trong trại cấm Chimawan
mỏi mòn, giữa núi rừng Bataan hiu hắt, trên những bước đường lưu lạc nơi đất Mỹ
xa xôi... tôi ít khi quên cầu nguyện cho mẹ mình ở lại quê nhà thân tâm an lạc,
còn sống cho đến lúc tôi trở về với mẹ. Mười năm xa mẹ nhưng ngày nào tôi cũng
gặp mẹ trong tâm niệm của mình. Mười năm xa tôi nhưng trong lòng mẹ, tôi vẫn
được che chở bằng lời nguyện cầu không rời nửa bước. Cái xa không gian chỉ là
thước tấc, nhưng cái gần tâm lý đã làm cho trăng rơi trên tóc, nắng đậu trên
vai, cho con chiên gần giáo chủ và cho những đứa con Việt Nam xa quê được cận
kề bên mẹ.
Ngày
trở về, tôi đếm lùi thời gian gần mẹ:
Bốn tuần, ba tuần, hai tuần, một tuần... rồi vài hôm nữa - con sẽ xa mạ,
bỏ mạ mà đi rồi mạ ơi!
Cho
đến khi máy bay tách vùng trời Huế, bỏ lại đàng sau khuôn mặt buồn hiu hắt của
mẹ già không còn đếm thời gian bằng tuổi, những đôi mắt trông vời đẫm ướt,
những đồng khô cỏ cháy dưới chân đèo, vút lên mây và bay về phía biển, tôi mới
thấy hết niềm đau của hội ngộ và chia ly. Tôi linh cảm gặp mẹ lần nầy là vĩnh
biệt, tự nhiên cái khóc oà đến, sướt mướt và dễ dàng như trẻ thơ. Máy bay nội
địa ngày mồng một Tết vắng như chuyến đò ngang khuya khoắt, tôi không che dấu
nỗi xúc động dâng trào cho đến khi cô chiêu đãi viên hàng không người Việt đứng
đó, dường như ái ngại, đưa xấp giấy mịn lau nước mắt, nói nhỏ nhẹ bên tai tôi:
-
Thưa ông, tôi xin lỗi! Tôi nghĩ là ông đang cần cái nầy.
Tôi gượng cười:
-
Xin cám ơn cô. Không ai có lỗi hết. Chỉ có số phận chua cay có lỗi với con
người lương thiện mà thôi.
Cô
chiêu đãi viên không chắc đã hiểu ý tôi, nhưng cũng cười nụ lấy lòng:
-
Tôi cũng nghĩ vậy.
Rồi
cô ta quay đi.
Máy
bay vẫn bay trên vùng trời quê hương, hướng về Nam, nhưng sao tôi nghe như sau
tầng mây thấp dưới kia có tiếng gió gào và sóng giật; có tiếng vỗ cánh thật
buồn như thanh âm tan tác của bầy chim xa xứ, xôn xao trở về, rồi lặng lẽ ra
đi!
Ðêm
đầu tiên từ làng lên Huế ở lại, tôi ngủ nơi căn nhà cũ của chị Quyến ở đường Ô
Hồ gần trường Nguyễn Du. Năm giờ sáng tôi ngỡ ngàng mở mắt với một cảm giác
bàng hoàng tức thời vì bị đánh thức dậy bởi tiếng loa phát thanh đầu đường. Sự
sợ hãi của một ngày lây lất tranh sống vất vả đã nằm trong vô thức. Từ nhạc đệm
đến tiếng người xướng ngôn vẫn giống y hệt như cũ làm tôi quên mất mình đã xa
tiếng loa sớm tối hơn 10 năm. Nhìn đứa cháu gái đang chong đèn học bài một
mình, tôi cảm thấy xót xa và hỏi cháu:
-
Tiếng loa ồn dữ rứa làm sao cháu tập trung học bài cho được?
Cháu
trả lời dễ dãi:
-Dạ, lâu
ngày con quen rồi. Mấy bữa loa hư con lại thấy vắng quá học không vô đó, thưa
cậu.
Cháu
làm tôi nhớ bé Na ở Mỹ vừa học vừa đeo headphone nghe nhạc bị la hoài mà vẫn
chứng nào tật ấy. Phút đó tôi tự hỏi sự thanh tịnh ở ngay chính trong tâm mình
hay từ ngoại cảnh? Tôi lại mắc bệnh bao đồng nên cứ mãi băn khoăn cho những
người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cảm thấy đời vui. Họ là những người đã
ngồi trong tâm bão mà tôi thì vẫn còn cỡi gió lang thang.
Tôi
lại đèo xe Honda với Ðoàn Phạm Túy Linh đi lêu têu như ngày xưa hai thằng trốn học
rủ nhau ra quán cà-phê. Nhóm bạn cũ đầu tiên không hẹn mà gặp trong quán cóc
đằng sau Mô Ranh là những thằng nghệ sĩ Huế lang thang, cái lang thang đầy xót
xa của những đứa có tài phải chịu “chung thân bất mãn”. Hình như một
nghệ sĩ “Huế rặt” phải mang kiếp Sâm Thương: sao Hôm là con người và sao Mai là
tác phẩm. Ngày nghệ sĩ tự mãn với chính mình và tác phẩm của mình thì trái đất
sẽ ngừng quay và đêm ngày là một. Lúc đó, nghệ sĩ hay tác phẩm, một trong hai
phải ra đi và con đường sáng tạo chỉ còn là một dãi thiên hà của ảo ảnh.
Giữa cuộc trần ai tân khổ nầy, dễ chi gặp lại
đưọc những thằng khánh kiệt mà khẩu khí vẫn hào sãng như dân triệu phú mới ra
lò. Những đứa con ruột hay con tinh thần của xứ Huế đã chọn làm người chân
thật, nên vẫn làm văn nghệ như làm thơ trên đá, suốt một đời trung thực với
chính mình. Tôi ngó quanh. Những đứa bạn nghèo xơ xác quanh cái bàn nhậu lỏng
chỏng diã trống, chai không cũng là những tay kiện tướng đã từng sáng tác văn
thơ làm rung rinh dư luận, nay đang “ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ” với
lối nói chuyện bạc mạng kỳ hồ một cách thoải mái.
Thời
gian thì có hạn mà bạn bè thì ở khắp phố phường ngõ ngách nên tôi phải chọn
những đứa bạn thân và nghèo nhất để khỏi bị “xét nét”, cái xét nét của Huế
thường rất cay co như một ngọn roi tình cảm. Linh và tôi ghé nhà Phan Hữu
Lượng, thằng họa sĩ nổi tiếng về tranh chưa bằng nổi tiếng về giọng hát tuyệt
vời. Dáng Lượng vẫn mảnh khảnh và cái gịọng vẫn ấm và đùa vui như nắng mới:
-
Mụ cô mi, thằng Ðoàn! Mi là thằng gà chết. Hơn mười năm mới
vác xác về thăm
Cái
thằng dám cả gan chạy bổ ra khỏi túp nhà tranh muôn năm của hắn để đón một tên
Việt Kiều có giấy chứng nhận như tôi bằng một câu chưởi hết sức thân thương
“thiếu lập trường quan điểm” đầy Huế rặt như vậy. Hai đứa ôm nhau thật chặt,
rồi nó buông tôi ra, nhìn từ đầu tới chân và nhận xét:
-
Mi có khác chi mô nà! Ngó không giống Việt Kiều chi cả.
Tôi
xách tai nó cười khoái chí:
-
Việt Kiều cái con khỉ! Tao qua Mỹ mười năm xuôi ngược, chen chân vô xã hội Mỹ
cực như làm cu li chứ có phải qua làm tổng thống Mỹ mô mà huy hoàng với thay
đổi.
Lý Văn Nghiên nghe nói lên chức
ông ngoại rồi mà vẫn còn hỏi tò te như cậu ấm mới lớn:
-
Nì, tao hỏi thiệt chớ ở Mỹ mi cũng ăn mặc giống “người
thường” kiểu ni thôi à? Tụi Việt Kiều về đây nhuộm tóc, dắt chó, ôm mèo, ăn bận
le lói giống như Michael Jackson; ra phố, vào tiệm có cả bầy trẻ đánh giày, ăn
mày theo sau xin đô la lẻ.
Tôi
không biết nói gì hơn là nhăn răng cười trừ. Có tiếng đứa nào đó, nghe rất
quen, bình luận trước khi chuyển qua đề tài ca hát:
-
Cái thằng! Việt Kiều “dỗm” như hắn mà tao lại khoái.
Tôi rất
ngạc nhiên là đa số dân nhà giáo Huế trở thành nghệ sĩ, dịch lý sĩ và hầu như
một số có “phép lạ” là sắm được xe Honda với đồng lương giáo sư đệ nhị cấp 55
ngàn (gần bằng 5 đô la) mỗi tháng và chiều chiều cũng rủ nhau nhâm nhi ra gì
với núi sông, trong khi giá một chai bia Huda sản xuất tại Huế giá 5 ngàn và
một gói thuốc thơm giá 10 ngàn đồng.
Chiều 23
tháng chạp, anh em rủ nhau làm đám giỗ Lê Hữu Nam, người bạn cùng nghề đã ngã
gục trên bục giảng. Tôi là người khách không được mời đến muộn nên đã bị đám
bạn bè đồng nghiệp quỷ sứ, toàn là “thày giáo - tháo giày” từ các trường Quốc
Học, Ðồng Khánh, Nguyễn Tri Phương, Thành Nội, Gia Hội... “cụng” lăn quay. Tôi
đã lẹ chân dọt qua Mỹ nên đành mất đi một cơ hội làm nghệ sĩ thời thế như Chạy,
Triệt, Hiệp... Tụi nó dạy Lý Hoá, tiếng Tây, Tiếng Mỹ mà còn làm thơ và đặt
nhạc vi vu mỗi đứa cả mấy trăm bài huống chi là thứ dạy văn - đã văng - như
tôi. Nghe tụi nó làm thơ, phổ nhạc hát lên, ngâm tràn chao ơi là mượt mà, hưng
phấn. Tôi như hụt hẫng vì bị lạc giữa mê cung của vần điệu và âm thanh. Tôi bày
tỏ sự ngạc nhiên sao mười mấy năm, ngày lại ngày sống cuộc đời dạy học giữa
những bức tường vôi đơn điệu mà những rung cảm xôn xao, những ân tình diệu vợi,
những mộng mơ hừng hực cuối trời vẫn không bị phôi pha. Trần Duy Tích đã “trả
lờI” một cách láu cá bằng cách ngâm lên bằng giọng ngâm gần “tri thiên mệnh”,
nhưng lại có dáng dấp lãng tử thu hút lạ lùng, mấy câu thơ “Tạm biệt Huế”
của Thu Bồn:
nhịp cầu
cong và con đường thẳng
một đời
anh đi mãi chẳng về đâu
con sông
giùng giằng con sông không chảy
sông chảy
vào lòng nên Huế rất sâu.
Tôi lại đi kiếm hai thằng bạn
thân nhất đã làm anh em “kết nghĩa vườn đào”. Tôi, tánh tình xốc nổi nhất nên được
cho làm Trương Phi. Ðoàn Tuyền Châu mềm dẻo và mưu lược được cho làm Quan Công
và Trần Kiên Nhẫn rất chững chạc, trầm tĩnh được làm Lưu Bị. Ba chục năm trước,
ba anh em Lưu Quan Trương chúng tôi đã trải qua bao nhiêu tháng ngày nóng lạnh
trong cơn sốt triền miên của thời cuộc và trong những cơn bão táp dật dờ của
đất nước. Tức cười nhất thời đó là hiền như Ðoàn Tuyền Châu thì cho ra tập thơ
Chuyển Mình bốc lửa, còn vỡ bờ như tôi lại làm tập thơ Hương Từ Bi đoan thục
như lời kinh. Phút đầu tiên xe vừa ngừng lại nhà Ngoại ở Thành Nội Huế thì Ðoàn
Tuyền Châu đã đứng đó đợi tôi tự bao giờ. Tôi bày tỏ sự ngạc nhiên vì sao Châu
biết tôi về thì anh chàng đã nói tỉnh bơ và chậm rãi:
-
Mình biết phút nầy đã 6 năm rồi!
Tôi ôm
Châu bồi hồi xúc động. Thằng “Châu gồng” ngày xưa giờ chỉ còn là da bọc xương
theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Nó chỉ còn lại dấu vết chưa phai là vầng trán
rộng mênh mông và đôi mắt sâu vẫn chứa chan tình cảm. Châu bây giờ lặng lẽ rút
vào bóng tối, âm thầm nghiên cứu dịch lý và chấm số tử vi. Con phượng hoàng
ngày xưa chưa gãy cánh nhưng nó không nhìn thấy hướng đi giữa bầu trời đổi mới,
nên đành nấp bóng giữa hang sâu trong chính tâm hồn của nó. Tôi và Châu lại đi
tìm “Lưu Bị”. Chúng tôi gặp nó đang ngồi làm thuê tô xi măng trên nóc nhà của
khu nhà mới trước Dòng Chúa Cứu Thế. Thấy mặt tôi, nó mừng quá, cười rạng rỡ,
tay nắm cáy bay huơ huơ chào và nói vọng từ trên nóc nhà vang xuống:
-
Ðợi 5 phút, tau xuống liền. Tao phải ráng tô hết mảng xi măng ni cho khỏi chết
đã.
Một
lát nó bương bả nhảy xuống. Cái mặt nó còn trắng trẻo và sáng sủa quá để làm
một anh thợ nề chuyên nghiệp. Tôi hỏi:
-
Nghe nói mấy năm rồi mi toàn lên voi xuống chó. Chừ leo lên tận nóc nhà người
ta mà ngồi là đang lên chó hay xuống voi rứa hè?
Nhẫn cười hóm hỉnh:
- Thì tại quan nhất thời, dân vạn
đại mà. Lên voi để bợ đít voi, chi bằng xuống chó mà coi đằng đầu.
Ba đứa
lại kéo nhau vào quán cháo gà của thằng Diệm tại An Cựu. Chủ quán gặp bạn cũ
khoái quá, giao hàng quán lại cho vợ con, nhập bọn đấu láo cho đến khi say ngây
ngây “trăng tàn trên hè phố” mới chia tay.
Về Huế,
được đi lại trên những con đường phố cũ, tôi nghe thân thương như bàn chân tôi
và đất đá giữa đường cũng còn nhớ nhau mà trò chuyện. Trên khuôn mặt những
người cũ thêm nét phong trần và có chút già đi, nhưng với tình cảm thì sự đứt
đoạn của thời gian chẳng làm phai đi cái giao tình của Huế.
Thêm
vài ba khách sạn mới, thêm năm ba sàn nhảy về đêm, thêm những con đường thay
tên đổi chủ cũng chẳng làm cho Huế trẻ hơn hay già đi như từng phiến gạch trên
thành. Huế vẫn nghèo như cái nghèo thanh bạch của “ông già Bến Ngự” Phan Bội
Châu ngày xưa. Âm thầm, đạm bạc, đơn sơ trong lòng thuyền nhỏ bé mà vẫn nghe
hết cả tiếng đời xao động ngoài kia.
Cảnh
Huế, người Huế và tình cảm Huế thường bị phủ rong rêu và lắng xuống bề sâu nên
trên bề mặt vẫn thấy trôi chảy trong dáng điệu trầm trầm, chầm chậm như nước
sông Hương. Giòng sông đó vốn hiền nhưng vẫn có những năm mưa nguồn rung chuyển
cả dãi Trường Sơn; nước lũ sông Hương cuốn phăng cả núi Bãng Lãng; cuồng lưu
xoáy sạch cả cửa Thuận An, cửa Tư Hiền, đổ phăng ra biển Ðông với cả sức mạnh
đại dương vũ bão và tiếng Hải Triều trầm hùng vang xa hàng trăm dặm. Nước sông
Hương suốt bốn mùa sâu thăm thẳm. Núi Kim Phụng vững chãi như bắp vai Từ Hải,
núi Vạn Niên cây xanh nước biếc, núi Truồi “ai đắp mà cao”, núi Bạch Mã
sừng sững quanh năm mây phủ... trấn thủ một cõi trên dãy trường Sơn cao chất
ngất, rộng ngút ngàn bao quanh phía Tây của Huế làm điểm khởi phát cho thượng
nguồn sông Hương.
Bởi
thế, trong cái yên nghỉ thâm cung của Huế, muôn đời vẫn có sự âm ỉ dâng trào.
Chắc Huế sẽ không ngủ yên khi đất nước còn thao thức...
Tôi
về Huế như đã nhiều lần về vùng Trung Mỹ. Tôi yêu tổ quốc Việt Nam thiêng liêng
đã sinh tôi ra, nuôi tôi lớn; nhưng cũng trân trọng và biết ơn đất nước Hoa Kỳ
đã dang tay ra đón và cưu mang tôi trong bước đường mệt mõi, khốn cùng. Thế
nhưng tình mẹ ruột thường dễ chạnh lòng, tội nghiệp và đậm đà hơn mẹ nuôi, như
quê mẹ của tôi đã gắn bó một đời không có gì thay thế được. Vậy mà cuối cùng, vì cuộc sống, tôi cũng
phải
Huế
ơi! Tôi không tin ra đi là hết, là xa mãi quê nghèo để xây dựng một cuộc đời
mới nơi đất nầy mà quên đi tình cố xứ xa xăm bên kia. Tổ quốc tôi đã bao năm
như mẹ hiền quen chịu đựng, sá chi những cuộc can qua của Tàu, của Tây, của
Nhật... trên chuyến tàu lịch sử vè muộn, trễ tràng.
Những
lớp sóng hưng phế cũng chỉ là những lớp bụi phù du. Tôi tin là những đứa con
của Huế, những đàn con Việt Nam vẫn là những con ngoan, vẫn tha thiết một đời
vươn lên thắp sáng tương lai Quê Cha và giữ thơm Quê Mẹ.