Chú thích:  Bản Văn sau đây trích từ tập truyện ngắn “Con Yêu Bánh Nậm” của Trần Kiêm Ðoàn… 

 

Xin đọc truyện “Về Huế” trước khi đọc “Việt Kiều” tuy hai truyện không tiếp nối nhau, nhưng hình như đọc theo thứ tự như vậy thì hay hơn . . .

 

VIỆT KIỀU

 

 Trần Kiêm Ðoàn

 

Phi trường San Francisco giữa mùa Giáng sinh rực rỡ với đèn sao lấp lánh.  Cả một rừng người tứ xứ đưa đón, đi về, bận rộn, xung xăng như chú rể, cô dâu trong ngày cưới.  Ðứùng trong đám đông người lố nhố hầu như toàn tóc đen của dân châu Á trước quầy vé đường bay quốc tế về Manila đang chờ nhân viên Philippines Air Lines cân gởi hàng hóa về Việt Nam, Huy có thể nghe rì rào tiếng Việt đủ giọng nói Trung, Nam, Bắc. Nhìn những va-li hàng hoá căng phồng với các món hàng gởi gắm chĩu nặng tình quê và những khuôn mặt ưu tư vì lo hành lý cân quá tải, Huy cảm thấy mình lạc lõng.  Ðã không không ai đưa tiễn mà Huy cũng chẳng thuộc về đoàn người đang rủ nhau về thăm quê hương trong mùa Tết như bầy chim Ri mỗi năm gọi đàn trở lại cánh rừng cố lý đầu nguồn.

 

          Huy ôm chặt cái va-li xách tay nhỏ nhắn của mình, ngồi đơn độc trên chiếc ghế phi trường nhìn dáng vui tíu tít, rỡ ràng của thiên hạ.  Anh bạn lớn tuổi đưa giúp lên phi trường sợ thức khuya sớm mai trễ giờ đưa báo đã kiếu về sớm. Huy bâng khuâng nhớ lại những cái ga tàu còn đầy trong ký ức như ga xép Phú Bài, ga tạm An Cựu và bến xe Nong, Truồi, Cầu Hai , Nước Ngọt - Huế.  Nơi đó, thời thơ ấu Huy cũng đã từng có niềm vui rộn ràng cũng như nỗi buồn xao xuyến của sum họp và chia xa khi mỗi lần đưa đón mẹ và mấy anh chị đi về.  Giờ đây, ga tàu bay xứ người quá tân kỳ và đồ sộ, nhưng với Huy thì vẫn thiếu vắng một “cái gì nằng nặng trong hơi máy”.   Tình không vướng thì lòng dạ dửng dưng!

 

          Mười mấy năm ở Mỹ, Huy đã quen đi về một mình trên chiếc xe đóng kín, những xôn xao hoa lá trong hồn rồi cũng mòn dần như những cặp lốp xe chạy hoài trên những xa lộ quá trơn tru nên cứ truột dài không chỗ dựa.  Hương hoa và ý nghĩa về một cuộc sống tình cảm đậm đà, ướt át hình như phai dần theo tháng ngày chạy đuổi với cuộc sống quá thực tế trên đất nước nầy.  Huy độc thân, làm việc toàn thời gian ban ngày và bán thời gian ban đêm, nên những khoảng trống mơ mộng đã bị lấp đầy bằng những giấc ngủ mệt mề và những bữa “cơm fast food” vội vàng cầm trên tay vừa lái vừa ăn.

 

          Thế giới tình cảm của Huy cũng hiện thực mà mơ hồ như con tàu lầm lũi đi giữa sương mù chệch hướng. Huy không còn quá trẻ để sống vỡ bờ và cuồng nhiệt cho hiện tại và tương lai; cũng chưa già giống thế hệ đàn anh để tự hào vu vơ trong vỏ ốc, cố chối bỏ một thực tại chua cay để thay bằng một anh hùng quá khứ huy hoàng đầy hoang tưởng.ï Huy vẫn đứng bên lề tình cảm lứa đôi, nhìn những người bạn gái người Việt kiêu sa ngày một xa và những người bạn gái Mỹ thực tế và xông xáo đến trần trụi ngày một vắng. Trong cô đơn, Huy càng thấy thấm thía tình thương của mẹ và những gắn bó đậm đà dành cho gia đình và tình nghĩa anh em ruột thịt ở quê nhà. Những khoản tiền lớn chắt chiu và dành dụm được bằng đồng lương đi làm ngày đêm không có giờ ngủ Huy hớn hở gởi về đều đặn cho mẹ, cho anh không một chút đắn đo.  Huy bằng lòng với sự hy sinh cực nhọc bên nầy để có tiền gởi về cho mẹ được sung sướng, cho anh được thoải mái làm ăn và cho các cháu được học tập nên người.  Có những đêm đi làm về khuya khoắt, lạnh vùi trong tuyết, Huy chỉ cần nhắm mắt lại, tưởng tượng cảnh bà mẹ quê của mình vui với bầy cháu ngoan, học hành xuất chúng, bên cạnh ông anh chí thú làm ăn là Huy đã thấy lòng ấm lại, sung sướng miên man nên tuyết lạnh bỗng trắng như bông kết thành mơ ước.

 

          Mẹ không biết chữ nhưng đã có anh cả và bầy cháu chăm chút viết thư đều đặn cho Huy.  Những lá thư từ quê mẹ! Những lá thư quê hương nổi bật với đường viền xanh đỏ quanh bì thư, bao năm qua đóng vai những chuyến tàu tình cảm chuyên chở yêu thương.

 

          Nghĩ đến mẹ thật nhiều, Huy ôm chặt bao hành lý xách tay với những món quà của một thuở ước mơ dành cho me. Huy nghe tim đập nhanh khi liên tưởng đến phút sum họp. Huy sẽ quàng lên vai mẹ cái áo gấm Thượng Hải màu huỳnh bá điểm hoa lý. Mẹ sẽ cười vui phất phơ tóc trắng khi Huy mặc thêm cho mẹ cái áo bông mềm với những đường may trấn thủ mà Huy đã đặt mua tận Hồng Kông. Huy không hiểu bao năm qua gót chân mẹ có còn nứt nẻ khi mẹ mang đôi giày nhung. Huy biết mẹ vẫn cười vui nhưng Huy sẽ buồn buồn pha chút tủi thân khi trao mẹ chiếc áo Quan Âm mà Huy đã lên tận tu viện Kim Sơn để thỉnh cho được những nét thủ bút chữ Phạn tài hoa của thầy Trưởng Thượng.  Ðây sẽ là chiếc áo choàng khi mẹ trăm tuổi.  Huy sẽ cận kề bên gối mẹ hay vẫn ở quê người ngày mẹ mặc áo Quan Âm đi vào vĩnh biệt thì vẫn có bóng Huy gói ghém trong chiếc áo.

 

          Chuyện kể ngày xưa có một người tình đi trên gai, chạy giữa tuyết, ngủ gữa đồng hoang nắng cháy mà vẫn ung dung trên những dặm đường dài không biết khổ vì cảm giác thường là sản phẩm của sự so sánh.  Tình cảm của Huy hướng về mẹ và quê hương cũng dạt dào như sóng lớn. Huy quên đi rất nhanh những nhọc nhằn ngày qua ở quê người cho niềm hạnh phúc đang hiện rõ dần từng nét trên quê hương.

 

Huy ghé vào quán cà phê trên bến xe đò An Cựu về làng, kêu một cốc cà phê đen. Cái mùi ẩm mốc muôn thuở của bến xe gây cho Huy cảm giác gần gũi, ngây ngây.  Một thoáng hồi tưởng ấm áp mơ hồ bốc lên từ tách cà phê đặc quánh làm Huy thắy dịu ấm từ chân tới đầu như được tắm trong giòng nước trưa hè của giòng sông quê hương. Huế hôm nay vẫn là Huế mười năm trước. Huy hôm nay cũng thế, bộ quần áo rẻ tiền khoác lên vóc dáng mảnh khảnh, rám nắng và đôi dép không quai sau đã giữ lại được hình ảnh cũ của chú Huy xóm nhỏ ngày xưa.  Cảm giác chim bay về nguồn cội để họp đàn, hòa điệu, thuộc về trong một tâm hồn xao xác lạc bầy nay tìm được về tổ ấm sao mà đằm thắm, tràn đầy, ngất ngây đến thế.  Trí óc và tâm hồn Huy buông thả, lắng nghe; khỏi phải dùng lý trí để nói cho đúng chữ, đúng giọng; khỏi phải luôn luôn trong trạng thái tỉnh thức để nghe cho hiểu, chạy cho đúng đường như bao năm qua phải tranh sống ngày lại ngày bên trời Âu Mỹ.  Không ai để ý Huy là dân tóc đen, hay tóc vàng; cũng chẳng ai tò mò muốn biết Huy từ đâu lại.  Giọt nước cũ đã trở về giòng sông xưa thì cứ việc xuôi giòng giữa hai bến bờ lau lách.

 

Huy là người cuối cùng lên xe, phải nói là “đeo” lên thành xe mới đúng, vì chuyến xe chót trong ngày quá chật, hành khách đứng chen chân từ trong ra ngoài chật cứng.  Cũng là chiếc xe hộp loại Renault đã lê gót trên cùng một tuyến đường từ ba mươi năm trước.  Bác tài xế vui tính thuở nào giờ có vẻ mệt mỏi, ngồi trên hai cái mền xếp làm nệm xe, ôm tay lái mòn nhẵn, hút thuốc vấn, miệng bập bập nhả khói buồn hiu giống thân cây gỗ gió già  trơ trụi đợi mãi chẳng thành trầm.   Rồi cũng có một anh lơ xe trẻ tuổi cầm cần ma-ni-ven cong lưng quây túi bụi, chiếc xe  thở phì phò rồi nổ máy cho toàn thân run lên và chầm chậm lê bánh về làng. Huy không còn cách nào để tránh ngực sát ngực, vai kề vai với những người hành khách khác. Ðiểm tựa duy nhất là những cánh tay giơ quá đầu bám chặt vào giá trần xe, buông thả thân xác chao đảo lắc lư tự do theo nhịp ga, chân thắng của bác tài xế.  Mùi mồ hôi, mùi hàng hóa, tiếng nói chuyện lao xao... quen thân quá như mùi đồng ruộng, như bài hát “Vui Ca Lên” đồng vọng thuở thiếu thời.  Xe lăn bánh lần mò với giàn máy móc cũ kỹ than van, không đến nỗi nằm đường nên cuối cùng cũng về tới bến.  

 

Huy khoác xách hành lý lên vai đi vào làng.  Trời gần chạng vạng.  Con đường xóm Sông đã tối thẳm vì rợp bóng tre.  Huy muốn dành cho mẹ và gia đình một sự ngạc nhiên kỳ thú bằng cách âm thầm về lại làng xưa không báo trước với bộ áo quần cũ kỹ nông dân.  Huy tính sẽ vòng quanh theo ngõ vườn sau, theo phía chuồng heo vào nhà bếp, lên nhà trên, rồi lặng lẽ ngồi xuống bên mẹ, đặt vào lòng tay mẹ gói thuốc cẩm lệ Mụ Cửu Ới, và gói trà Thiết Quan Âm,  rồi nói rằng:  “Mạ ơi! Thuốc cẩm lệ ngon hạng nhất với trà thơm của mạ đây nì!” 

 

Chút háo hức mường trượng trẻ thơ bỗng chùn lại khi Huy vừa bước vào khỏi cái bình phong gia tàu trước ngõ.  Tiếng nhạc kích động giật gân vang ra từ ngôi nhà ngói đỏ đồ sộ còn núp giữa bóng tre.   Cái nhà mới với nền cao sừng sững đầy vẻ kiêu kỳ tội tình của một cô gái quê thiếu nhan sắc mà cố làm ra dáng cong cớn thị thành.  Ðèn điện xanh đỏ lập lòe và tiếng hát khét lẹt rống lên đâu đó từ giàn nhạc cụ rẻ tiền nhưng âm thanh cực kỳ khuếch đại.  Căn nhà ba gian hai chái quen thuộc không còn nữa.  Chiều quê với tiếng ếch nhái và côn trùng gọi đàn êm ả mất hút trong đống văn minh học đòi cuối mùa làm Huy cảm thấy một lớp đe dọa rờn rợn lẩn quẩn quanh ngôi nhà xưa giờ đã rùng mình lột vỏ. 

 

Huy đứng tần ngần khá lâu ngoài cửa chẳng ai để ý.   Hình như buổi tiệc nhậu hát nhạc karaoke đang hồi hứng khởi.   Huy nhìn thoáng anh Hai đang ngồi ở bàn giữa với ly bia sủi bọt không rời trên tay.  Tóc anh đã bạc trắng, để dài, chảy xuống đôi gò má xệ vàng vọt.  Thằng Sơn, thằng Hải, hai đứa con trai lớn của anh Hai coi vẻ đã trưởng thành đang thay phiên nói chuyện gì như hét, tay nầy nắm lon bia, tay kia cầm điếu thuốc lăm lăm như đấu kiếm bên cạnh những khuôn mặt vừa lạ vừa quen.  Không thể đứng ngoài lâu hơn được nữa, Huy bước lên thềm vào nhà.   Như thêm một khách nhậu, chẳng ai để ý.  Huy đến sau lưng anh Hai, quàng tay quanh cổ anh, kêu lên nghẹn ngào: 

-         Anh Hai! Em về đầy nì.  Huy đây anh nờ!

 

Người anh cả quay phát lại như điện giật, ôm chầm lấy em, lay lay như gọi hồn ma về nhập xác.

-         Trời ơi!  Huy!  Ðây là Huy thiệt đây à?  Chú về hồi mô mà không cho ai hay biết chi hết rứa?! 

 

Huy chưa kịp trả lời anh, đã hỏi dồn: 

- Anh!  Mạ mô rồi?

 

Ông anh cả còn đang trả lời lúng túng câu gì chưa rõ thì con Vạc từ dưới bếp chạy lên, nhào tới cầm tay Huy khóc nức nở.  Vạc là con gái của người giúp việc cũ đã sinh ra và lớn lên trong căn nhà này, nên được mẹ Huy coi như con cháu ruột thịt.  Cảm thấy như có một thoáng lúng túng bất thường, Huy chụp ngay Vạc và hỏi tới tấp vào tai nó:

  - Vạc, mệ mô rồi? 

 

Con Vạc trợn mắt lùi lại nhìn Huy trân trân như nhìn một hiện tượng quái dị:

- Thì mệ nằm ngoài đồng chớ mô nữa.!

 

Huy không chắc mình đã nghe rõ, hỏi lớn tiếng: 

- Cái chi? Mệ ở riêng à? 

 

Con Vạc lại bù lu, bù loa khóc lên.  Vừa khóc, vừa kể:

 - Chú Huy, chú hỏi chi lạ rứa? Mệ mất hai năm ni rồi, chú ở Mỹ gởi tiền về lo đám, xây lăng cho mệ, còn hỏi chi nữa!

 

Huy run rẩy ngồi phịch xuống, ôm cứng chân người anh cả hỏi cuống cuồng:

  - Anh Hai!  Mạ mô rồi?  Chỉ cho em mau đi anh.  Mau lên!  Xin đừng ai nói láo với tôi nữa.  Trời ơi, Mạ!  Con về với mạ đây mạ nì! 

 

Không có tiếng trả lời.  Huy buông chân người anh đang ôm đầu đứng sững với khuôn mặt tái xám, rồi lảo đảo chạy nhanh vào bàn thờ.  Mẹ đó.  Mẹ chỉ còn là cái bóng thờ lúp mặt sau tấm khăn vải đỏ.  Huy cuồng lên, vươn tay ôm khung ảnh của mẹ.  Sau lớp vải đỏ, sau khung kính bụi mờ là khuôn mặt mẹ.  Huy ôm ảnh mẹ vào ngực và lăn lộn quanh nhà với cơn lốc tình cảm cho đến khi người y tá đến băng những vết thương do khung kính vỡ cắt vào người Huy.   Nước mắt chảy nhiều hơn máu, nhưng có vị thuốc nào băng bó nổi những thương tích cắt xé tâm hồn và cầm được nước mắt của một đứa con vừa biết mình vĩnh viễn mất mẹ. 

 

Ðã ba ngày, từ lúc tinh mơ cho đến khi trời tối mịt, Huy chỉ quanh quẩn nơi Cồn Làng. Ðây là thế giới im lìm của vĩnh cửu, là vùng mồ mã của tổ tiên và con dân làng Tây Hạ sau khi nằm xuống và trở về với đất.  Huy nhổ cho hết những cây cỏ may lơ thơ cuối cùng quanh mộ mẹ.  Những nén nhang nối đuôi nhau cháy cho giòng khói lam hiền và rất mong manh chảy trên đồng vắng.  Nhìn những bụi dứa hoang chen chúc muôn đời trên mảnh đất nghèo cằn cỗi, theo dõi những con ong muối về xây tổ ẩn dưới cọng lá mâm xôi, Huy bỗng thấy thèm khát một mái nhà,  một khuôn mặt trìu mến và bàn tay ve vuốt thân yêu. Mẹ mất rồi. Mẹ đang yên nghỉ dưới bầu trời xanh quê hương lồng lộng.  Bàn tay Huy đã chằng chịt vết cắt của cỏ dại và cháy nâu với nắng gió đồng hoang, nhưng cái nghèn nghẹn không tên trong lòng vẫn không vơi bớt.  Huy lẩm bẩm mấy câu thơ nổi loạn của Nguyễn Ðính đang trở về trong vô thức: “Mả cha cuộc đời quá vô hậu! Nhìn tới nhìn lui không biết thù ai...”   Uất nghẹn, tủi thân, giận dữ, thương hại, lưu luyến, chán ghét... đang là mớ bòng bong cảm xúc lắng sâu trong lòng Huy.   Ông anh cả bản lãnh và uy quyền lẫm liệt một thuở trong gia đình giờ là một phế nhân của thời cuộc, đành tâm dấu tin mẹ mất với đứa em út tha hương vì nguồn lợi lộc bạc tiền.  Nhớ những đồng tiền chắt chiu ngày xưa mà anh cả đã dành cho em lên thành phố học, nhớ phong cách mẫu mực một thời của anh ấy trong gia đình và làng xóm, rồi nhớ những cái thư quê hương hỏi tiền hằng nghìn đô la chữa bệnh cho mẹ vừa gởi đều trong những tháng gần đây, Huy không còn một phản ứng nào hơn là im lặng.   Hình như cả anh Hai và Huy đều không còn chịu nổi cái im lặng núi đá trong suốt mấy ngày qua.   Nỗi mất mát của quê hương không còn ở mức độ nghèo khổ mà đã vượt cao quá tầm băng hoại của tâm hồn.  Cái im lặng dồn nén trong Huy bỗng bắt đầu cựa quậy khi Huy nhớ văng vẳng lời nhắn của bà chị dâu:  “Ngày mai có tiệc lớn mời bà con làng nước tới mừng chú ở Mỹ về thăm đó!”.  Huy bỗng lắc đầu, thở dài khi ngước nhìn dãy Trường Sơn tím thẩm buổi chiều phía Tây đường quốc lộ 1.  Dãy núi nghìn trùng buồn hiu hắt như quầng mắt thăm thẳm của mẹ già.  Những trái núi tự nhiên lớn dần như mây đen vần vũ trên đầu và những mồ mả rúng động, rung rinh rồi bật rễ quan tài lao đi vun vút.  Huy chần chờ, ném viên sỏi cuối cùng lên mộ mẹ và vùng bỏ chạy. 

 

Con đường qua ruộng, băng đồng quen từ thời tuổi dại mở ra trước mắt.   Qua cồn Gió, cồn Sim, cồn Nổi, cầu Bàu.  Có tiếng kêu đâu đây của mẹ, Huy dừng lại ngoái nhìn cồn làng nhưng chỉ thấy mây mù bao phủ. Huy không biết mình đang khóc hay mồ hôi và mây mưa làm ướt đẫm mặt mày.  Huy thấy mình nhẹ hẫng rồi bay đi, vi vu trong gió... Huy mở choàng mắt dậy và thấy mình đang nằm gối lên ngôi mộ hoang đầy cỏ tranh trong bóng tối.  Huy nhớ lại là mình đã không ăn gì trong suốt hai ngày.  Sự đày đọa thể xác và nỗi uẩn ức bùng vỡ làm Huy chao đảo.  Huy gượng vùng dậy và tiếp tục xách gói hành lý nhỏ bằng cái nón cời chỉ còn đựng giấy tờ và tiền bạc, chạy lúp xúp theo đường quốc lộ 1.  Tới được cái ga xép Phù Lương, Huy chỉ còn đủ sức lết tới, lẫn trong đám người đang chờ chuyến tàu chợ vào Nam.

 

          Huy rời ga Bình Triệu vội vàng như trốn chạy.  Cái xa lạ của con người ít ra cũng có thể làm Huy cảm thấy dễ chịu, nhưng cái xa lạ của đất nước lại làm Huy se lòng.   Ðất nước cũng chỉ là vùng đất cát mênh mang khi thiếu chất keo của tình người và chất men của kỷ niệm.  Vùng đất hứa trong bao nhiêu năm giờ bỗng thành xa lạ.  Thành phố không quen và con người chưa hề biết di động tới lui như bóng mây giữa khung trời khuya và những mảnh sao băng lạnh lẽo, vụn rời, xa lắc.  Huy lửng thửng tìm đến chiếc xe xích lô đậu ở góc đường chẳng phải tình cờ mà vì sợ những mời gọi vồn vã, giành giật.  Huy như một con chim bị gió cuốn trong cơn bão của bạc tiền.  Một ngọn gió thu chớm lạnh cũng đủ làm cho chim rùng mình lẫn trốn.

 

          Cho đến khi ngồi hẳn trên xe rồi mà Huy cũng chưa biết mình sẽ đi đâu.  Người đạp xe với khuôn mặt sạm nắng, nhưng vẻ phong trần vẫn chưa xóa hết những nét thanh tú sau đôi kính cận và dáng trầm tĩnh, chịu đựng đơn độc. Hình như chẳng có gì ngạc nhiên trong giọng nói, ông hỏi Huy:

. . . . . . .

 

 

(Còn Tiếp  .  Xin tìm đọc Con Yêu Bánh Nậm (xuất bản năm 2003)

 

31/12/2003:  Hai cuốn “CHUYỆN KHẢO VỀ HUẾ” v à “CON YÊU BÁNH NẬM”

sẽ đươc Các Thân Hữu của Tác Giả tổ chức ra mắt sách một ngày rất gần đây tại Houston  Texas   Xin đón xem . . .