(Thư gửi bé Mai Lan viết bằng tiếng Đức)

 

Bên cạnh mộ bà ngoại   -  Huế 24. 03. 98

 

Con thương yêu,

 

Suốt cả chiều hôm nay mẹ ở bên cạnh mộ của bà ngoại. Sư cô Tịnh Liên bên chùa đã đem cho mẹ mượn hai cái ghế và một cái bàn đặt dưới gốc cây thông cạnh mộ, để mẹ có thể bắt đầu viết lách, soạn bài giảng (cho khóa I của Học Viện Phật Học Huế vừa mới khai giảng).

 

Như thế mẹ có thể vừa ngồi bên cạnh Bà Bgoại vừa làm công việc của mình, như lúc trước ở Muenchen, mẹ ngồi ở computer đánh bài viết và Bà Ngoại nằm nghỉ trong giường, nhưng hôm nay chỉ khác một điều : mẹ thì ngồi dưới bầu trời lồng lộng còn Bà Ngoại thì nằm sâu trong lòng đất u minh.

 

Bầu trời hôm nay không xanh trong mà có nhiều mây màu khói lam, gió thổi nhẹ nhàng qua khóm thông già nơi Đồi thông hai mộ…Trời hôm nay êm ảø, không oi nồng như hôm kia mà cũng không lạnh buốt như  hôm qua. Hôm kia khi mẹ đến Huế,  vừa bước ra khỏi máy bay, cơn nóng miền nhiệt đới như úp chụp cả người đến nghẹt thở, nhưng ngày hôm sau cơn nóng tan biến đi, nhường lại cho mưa phùn lâm thâm bay lất phất trong vườn xưa của Ngoại mình – chắc con không biết câu ca dao “mưa lâm thâm ướt dầm lá hẹ, tôi thương người mất mẹ…”, câu ca dao này có lẽ là câu duy nhất mẹ đã không hát cho con nghe khi con còn bé, vì lúc con còn bé làm sao mà mẹ đem chuyện mất mẹ hát cho con nghe ! –  mưa tháng ba thường nhẹ như tơ thế mà có thể làm ướt những luống rau luống cải trong vườn, để cho hoa cà hoa cải chớm nụ mà sao cũng có thể làm não lòng người đến rùng mình thế ấy? Nghe nỗi cô đơn cứ  dần dà ướt đẫm theo mưa ! Nhưng hôm nay trời bỗng nhiên nhẹ nhàng ấm áp trên ngọn đồi này. Bóng chiều nghiêng xuống chậm rãi và êm ái trên những cánh đồng hoa màu ở triền đồi dưới kia…

 

Mẹ ngồi đây, thả mình chìm vào trong thiên nhiên, nghe được cả hơi thở vào thở ra của rừng cây, bụi cỏ, rau dại mọc quanh đồi và của Đất, của không khí, của đám mây xám đang bay, của những tiếng vang chiều về trên các thôn xa, ngồi rất GẦN mà lại quá đỗi Xa Bà Ngoại, ngồi bên cạnh sự Yên nghỉ, bên cạnh sự Yên lặng vô cùng của Bà Ngoại. Mẹ muốn cùng với Ngoại cảm nghe và cảm nhận chỗ ở mới mẻ này, nơi quê hương xa lạ này, dò xét từng con sâu cái kiến nơi vùng đất thâm sâu kia, như khi đi tìm nhà mới, Ngoại thường đi trước với kinh nghiệm của mình để thăm dò suy tính …

 

Hoàng hôn trên miền quê buồn bả làm sao ! Bóng tối cứ giăng trải vướng vít trên những cành thông và chuyền đi rất nhanh như những màng nhện giăng võng trên mặt đất. Trong cái khoảnh khắc tranh tối tranh sáng ấy, con người bỗng thấy bơ vơ trên trái đất đến vô cùng ! Từ chiều, một hai em bé gái trong xóm dẫn nhau ra ngồi trên thành ngôi mộ bên cạnh, ngồi suốt buổi, tò mò nhìn mẹ hí hoáy viết với đôi mắt ngạc nhiên và đầy thắc mắc, không hiểu tại sao lại có một người “chẳng giống ai” đến ngồi đó với tập giấy trên bàn, như một hiện tượng lạ lùng kỳ quái trong cảnh chiều đồng quê. Trong ánh sáng mờ nhạt, bóng của hai đứa bé hắt trên thành mộ, trông chúng lại còn nhỏ bé hiu hắt đến chạnh lòng, như những hình bóng cuối cùng của trái đất trước khi mọi vật chìm trong bóng tối. Con ơi, chính trong giờ phút này mẹ mới cảm nhận được hết Một Trăm Năm Nỗi Cô Đơn mà con người phải chiụ đựng trên trần thế là như thế nào.

 

Aáy thế mà cùng một lúc, cảnh vật nơi đây trong bóng chiều lại đầyYên tĩnh thanh bình thấm suốt đến tận con tim. Trong tất cả nỗi buồn bả rã rời mẹ bỗng thấy mình cảm nghe được một chút hơi ấm của hạnh phúc, hạnh phúc được ngồi đây, hạnh phúc được ngồi gần Bà Ngoại sau ba tháng xa cách, trong bóng chiều rất êm, nghe thời gian đi, nghe đất bước lần vào bóng tối. Nước mắt ở đâu tự nhiên chảy xối xả ướt đầm cả mặt. Không thể hiểu được mà cũng không thể nào nói thành lời, cái giây phút ấy !

 

Con có thể cảm được hay tưởng tượng được cảm xúc của mẹ lúc này không ? Ngồi đây mẹ còn thấy rõ Ngoại ngày nào tươi tỉnh ở nhà mình tại Muenchen, hao gầy mà vẫn tỉnh táo trong giường bệnh và rồi vĩnh viễn ngủ yên, trong hòm, với chiếc áo dài, với đôi giày, và lần cuối cùng ở Huế khi đưa ngoại về lại quê hương, gặp lại ngoại lần khâm liệm trong nhà thương ở Huế. Hôm nay ngồi đây bên cạnh mộ, mẹ thấy tất cả những hình ảnh ấy thật rõ nét. Bỗng nhiên từ trong tim, mẹ như sờ được làn da của Ngoại trong lòng đất sâu, như thể mẹ cũng nghe da mình chạm vào đá cứng… Đá cứng đến như thế này ư ? như thể mẹ cũng nghe da mình nổi gai vì đất lạnh… Đất lạnh như thế đó ư ? Mạ ơi ! Ngoại ơi !

 

Trong giây phút ấy mẹ mới hiểu được tại sao ngày xưa đã có những người con ba năm liền làm nhà bên cạnh mộ của cha mẹ vừa mới mất, có lẽ cũng chỉ để được cùng cảm nhận với người nằm trong lòng đất sâu, cùng chia xẻ với người đã mất nơi chốn tuyền đài kia một phần nhỏ trong muôn một « nỗi niềm trở lại với đất », để cho sự chia tay giữa Sống và Chết của người thân bớt nỗi bội phần xót xa…

 

Trong lúc viết những giòng chữ này mẹ đang ngồi trong ngôi chùa nhỏ gần mộ của ngoại.

Tối nay mẹ sẽ ngủ lại đây, mặc dù các cậu và cả nhà không muốn mẹ ngủ lại nơi chốn hẻo lánh này, nhưng mẹ muốn ở lại đây, để trải qua một đêm và một buổi sáng với bà ngoại nơi chốn mới mẻ này. Nơi vùng quê thiếu nhiều ánh sáng văn minh, đêm đến thật vội vàng, trời tối như mực, tối thui như than đen. Đứng ở hiên chùa mẹ nhìn dõi qua phiá mộ trước khi vào nhà, trời tối quá, chẳng thấy chi được nữa, một chút tiếc nuối, thêm một phút nán lại, một chút lưỡng lự, con ơi, có nên nói “gute Nacht” (chúc ngủ ngon!) cho Ngoại không ?

 

Cùng với tiếng kinh khuya mẹ tiếp tục soạn bài và viết cho con, bên cạnh là bàn thờ Phật. Đây là một cái liêu nhỏ của cô Tịnh Liên, đệ tử sư bà Diệu Không mà con biết. Sư Bà đã viên tịch trước Ngoại, tháp của Sư Bà nằm trong khuôn viên Đồi Thông Hai Mộ của gia đình, cô TLiên xin làm cái cốc cạnh Tháp để hương khói cho Sư Bà. Trong liêu có hai em gái nhỏ vùa xin thí phát đi tu, đang còn học kinh kệ. Tối nào cũng công phu khuya sớm như tối hôm nay. Thấy hai cô gái nhỏ ngồi tụng kinh trước bàn Phật trông lành đến chừng nào, tiếng tụng kinh non nớt, nhỏ nhẹ, vừa như tiếng của những con chim non mới ra ràng, lại vừa như tiếng của những con suối nhỏ chảy quanh co trong các bờ lau lách, đem an lành đến những trái tim khốn khổ, Mẹ bỗng nhớ đến con những năm thơ ấu khi con bập bẹ theo mẹ niệm Phật, tự nhiên nghe trên vai như đang được một bàn tay từ bi nào vuốt ve xoa dịu và nỗi thổn thức trong lòng mẹ cũng vơi được phần nào…

 

Hình dáng hai cô gái nhỏ mặc áo nâu sồng thật là đơn sơ, giản dị đến mức thấy “sắc tức thị không” ! Có lẽ con chưa hiểu rõ hết ý nghiã của “Sự Có là Không” trong Bát Nhã Tâm Kinh hay con đã hiểu nó tự khi sơ sinh ? Mẹ chỉ muốn kể cho con một nét đơn sơ của cuộc sống ở nơi đây.

 

Con thương yêu, con có biết đời sống ở đây thật là mộc mạc và khiêm tốn không ? Con người nơi đây chẳng có chi nhiều, hay có thật là ít ỏi, ít ỏi đến nỗi một cái vòng trống rỗng cũng đủ là một chút chi nhiều lắm rồi. Họ nghèo quá, chỉ có vườn rau, vài bụi sả, một ít nương sắn, cây trong vườn… Chỉ có một cây, gọi là sum sê, đó là cây mít, trong tháng ba này, cây mít kiêu hãnh về cái “CÓ” của mình ! Và ngoài những thứ ấy, tiếng tụng kinh trong đêm khuya, hiện hữu giản đơn như thế ấy, cho nên sự mất còn có lẽ cũng nhẹ nhõm, như đêm xuống mau, như ngày sáng vội, giữa “mau và vội” không có một khỏang hở để buồn !  

 

Còn một chuyện nữa, rất huyền diệu, rất lạ lùng mẹ phải kể cho con nghe. Hôm kia vừa đến Huế, mẹ vội vàng lên thăm mộ ngoại. Khi đến nơi, mẹ đang vạch cỏ đi lên ngọn đồi, bỗng nghe tiếng gọi lạ kỳ vang động cả vùng đồi. Ngước mắt nhìn lên, qua đám cỏ cây, mẹ thấy một con trâu đang đứng nơi mộ của Ngoại, rướng cổ hết mình kêu rống lên “Nghe ơi Nghé ọ” “Nghé ơi Nghé a” Nghẹ ơi Nghé ạ”, ba lần như thế. “Nghé”ù tiếng Đức là “Bueffelbaby” hay Bueffelkalb đó con biết không ? Con còn nhớ lúc sinh thời ngoại hay ví mình là con trâu đi cày để nuôi con nuôi cháu, vì Ngoại là tuổi con trâu.  Cho nên khi nghe tiếng vọng mẹ giật bắn cả người, vì từ xa nghe sao giống tiếng Ngoại kêu con khi Ngoại nấu xong cơm gọi con đi ăn cơm “Bê ơi Bê”. Con trâu đứng đó một lúc rồi bỏ đi. Đó là lần duy nhất có con trâu lạc nơi mộ. Chưa bao giờ mẹ laiï kinh hãi sửng sốt như lần ấy. Nghe như Ngoại nằm trong lòng đất lần đầu tiên  mà mẹ lại bỏ ngoại chờ lâu như thế nên Ngoại nhớ Ngoại kêu. Lúc ấy mẹ không cầm được nước mắt nữa con ơi !

 

Bé ơi, trong lúc viết cho con, thì có con cóc ở đâu nhảy ra nơi sàn nhà, gần chỗ bàn viết, làm Mẹ phải co chân lên, sợ hắn nhảy tới mình. Con cười Mẹ phải không ? Phải rồi, ở xứ Tây chẳng bao giờ có chuyện cóc nhảy trên nền nhà xi măng, Mẹ nói Mẹ muốn trở về Quê mà sợ cóc thì trở về e cũng khó !

Con cóc ngồi đó tự nhiên như ở trong nhà nó, trong hang ! Hồi nhỏ con đã thuộc nằm lòng bài thơ con cóc, ai dạy con nói ? Bà Ngoại hay là Mẹ hay là Ôn Từ Đàm ? : con cóc trong hang, con cóc nhảy ra, con cóc ngồi đó…”

Đêm đã quá khuya, thôi để “con cóc ngồi đó”… một mình… với… mẹ nhớ con !

Mẹ thương con.

 

Từ bản tiếng Đức viết cho Mai Lan

Thái Kim Lan