Từ Bình chánh đến Saigon
Những năm tháng sau ngày đứt phim 1975, ở tù ra và
không biết khi nào vào tù lại với tờ giấy chứng nhận lý do ra tù nửa nạc nửa
mở: "Về Theo Chính Sách", Tôi lang thang khắp nơi, và cuối cùng được
tạm yên thân tại Bình Chánh, một huyện ngoại thành của Saigon.
Khi tôi đến
nhận việc, cơ sở rất nghèo nàn chỉ có 1 Bác sĩ
làm Giám đốc, tôi là người thứ 2,
tôi được cử làm phòng khám ngoại chẩn.
Để giúp các y tá thời bấy giờ thường được đào tạo cấp tốc trong 3 tháng,
nhớ các liều lượng thuốc khi bị bệnh nhân hỏi, tôi đã sáng chế một câu thơ bất
hủ:
“Thuốc viên: ngày 3 viên; Xi-rô (sirop) ngày 3
muỗng; Con nít cà phê; người lớn muỗng xúp”
Lúc bấy giờ, do đào tạo cấp tốc để phục vụ chiến
tranh, các nhân viên y tế cọng sản thường kém khả năng, nên các bệnh nhân (kể
cả cán bộ CS) thường tin tưởng vào BS chế độ cũ hơn. Hơn thế nữa, bản tính tôi vốn hòa nhã, nên bàn khám của tôi bao
giờ cũng đông người chờ. Tôi phải khéo
léo đẩy bớt khách chờ sang bớt bàn bên cạnh.
Một cán sự y tế VNCH đang làm phòng ngoại chẩn trước kia vẫn được trọng
vọng nay mất khách, thấy vậy hết sưc ganh ghét, y đâm thọc với cấp trên CS
nhiều lần, thấy tôi buồn vì chuyện này, các bạn tôi an ủi:
Ôi, “Hơi đâu
để ý chuyện ruồi bu: Hữu xạ tự nhiên
hương, chuột xạ tự nhiên hôi, cậu đừng lo !!!!”
Tuy chỉ cách Sàigon hơn 30 km, nhưng xe cộ thời đó
rất hiếm hoi, đi lại khó khăn, cho nên tôi phải ở lại tại nơi làm việc, mỗi
chiều tan sở, măc bộ bà ba đen, lang thang đầu đường cuối chợ kiếm bạn bè chén
chú chén anh với mấy người bạn miệt vườn mới quen mãi đến cuối tuần mới về
Saigon bù khú với bạn hữu. Đó là những tháng ngày có lẽ êm đềm nhất nhưng
là những tháng ngày vui nhất trong đời tôi, vì nhờ đó tôi được làm quen với những
người bạn mới, mà trong hoàn cảnh như trước năm 1975 có lẽ cũng khó mà gặp chứ
đừng nói là làm quen…
Tôi chưa được uống thử rượu đế Hốc môn mà nhiều
người cho là ngon nhất, nhưng với tôi rượu đế
Bình Chánh thì ngàn đời không quên, nhất là khi được đối ẩm với các bạn
nhậu gốc Bình Chánh ma tôi mới quen.
Dân quê miệt vườn hết sức chất phác thuần hậu, hiếu khách, “nghĩ sao, nói vậy, người ơi!”, cho nên khi
thấy tôi, là Bác Sĩ Bệnh viện Huyện, biết nhậu, và nhậu tới bến, muốn làm bạn
với họ, họ cưng tôi vô cùng, và tôi thì ôi thôi, tôi hết sức thoãi mái không
cần phải lo nghĩ cho cực thân.
Hơn thế nữa, dân Bình chánh cưng tôi nhiều cũng có
lý do: Cơ sở BV nhỏ hẹp, thân nhân sản
phụ có nguuồI sinh, thường đứng chờ ngay cửa phòng sanh, tôi lại có nghề sản
khoa, nhiều đêm sau những giờ chờ đợi, các ca đẻ khó thành công, họ thấy tôi ra
khỏi phòng sanh, máu me, nước ối văng đầy người thản nhiên tiến ra chiếc bể cạn
lộ thiên múc nước tắm. Đối với tôi đó
là chuyện thông thường, nhưng với người dân chất phác miền quê, hình ảnh đó quả
là vĩ đại.
Một trong những nơi tôi hay lui tới thời bấy giờ là
2 khu vườn của anh em Sáu Dự và Năm Đệ.
Hai anh em đều nhậu mạnh nhưng Năm Đệ nấu ăn ngon nhất, Sáu Dự tủu lượng
cao nhất. Ở Bình Chánh nhà nào cũng đào
ao thả cá, nhà Năm Đệ cũng vậy, ban đêm ngồi nhậu bên bờ ao, chàng hiu từ dưới
ao nhảy lên vắt qua cổ là chuyện thường tình, ban ngày buổi trưa trốn việc ra
nhà năm Đệ, ngủ trưa, nghe chị năm ru con với những câu hò miền nam mà bâng
khuâng tấc dạ:
-Hò ơ, anh tưởng giếng
sâu, anh nối sợi dây dài…..
Ai ngờ, … ai ngờ ... giếng cạn…., ai ngờ giếng cạn anh tiếc hoài sợi dây!!!
Ban đêm, nhậu say, ngủ bậy thì dễ thôi, nhưng ban
ngày thì thật sự lôi thôi và khó khăn hơn nhiều, nhất là vướng cái xe đạp vì
không ai muốn mất nó, nhất là thời buổi củi quế gạo châu như thời bấy giờ. Dân Bình chánh vẫn không ngạc nhiên và luôn khúc khích cười mỗi khi bắt gặp tôi, sau một buổi trưa hè đạp xe đạp đi nhậu trở
về, đi hết nổi, lăn ra nằm ngủ bên đường dưới gốc cây đa, đầu không những đã
gác lên bánh xe, mà tay còn khóa vào bánh xe kia nửa. Ôi, “Chuyện thường ngày ở huyện mà!!!”.
Trở về Saigòn mỗi cuối tuần, một trong những nơi tôi
lui tới thường xuyên là gia đình Trinh Xuân Tịnh, em ruột Anh Trịnh Công Sơn.
Tịnh là bạn tôi trong những năm học tiểu học và là cháu của Trịnh Bình Nam bạn
học của tôi. Cứ như vết dầu loang, Trinh Bình Nam, Trịnh Phủ, rồi từ từ
tỏa rộng đến Pham Nhuận, Hồ Đăng Lễ, Định Giang. Bob Chuẩn.... trong
những người này, Anh Lễ là người lớn tuổi nhất, điềm đạm nhất và chân tình
nhất.
Trong anh em, ai cũng là có tài văn nghệ, kẻ làm thơ
người hát, người làm nhạc, chỉ có tôi là cục mịch sơ sài, tuy vậy ai cũng khen
tôi là có trí nhớ tốt, vì tôi nhớ rành rọt các bài thơ hay có thể đọc không
thiếu sót các lời của bản nhạc, tuy rằng không hát được, không ngâm thơ
được.. Tôi vẫn thường tự hào mình là người "Xuất khẩu thành
thơ....nhưng mà là thơ người khác" có lẽ vì cái thiếu sót đó mà anh Lễ quý
tôi nhất.
Hai anh em vẫn thường lang thang các quán cóc ở bùng
binh ngã bảy Phan Thanh Giản, khi chén rượu khi cuôc trà, vịnh bàn thế cuộc,
nhìn tháng ngày trôi.... Những lúc bên ly cà phê bí tất của quán cà phê
ngồi xổm, nhắc lại những ngày xưa, anh vẫn nhìn tôi cười: "Tớ tiếc cho cụ là không quen với bọn tớ những
ngày ở Huế, những ngày ở Ty Công Chánh Huế, với Trinh Công Sơn, Bửu Ý, TônThất
Văn, Đinh Cường, Phạm Nhuận, Định Giang...".
Trong những năm lui tới với anh Lễ, đặc biệt là
những hôm cuối tuần, tuần nào cũng thế, tôi ngất ngưỡng từ Bình Chánh trở về
trong chiếc xắc tay bấy giờ lúc nào cũng có sẵn một lít rượu đế Bình Chánh....
Thời bấy giờ sau năm 1975, nhiều chuyện thế sự nhiễu nhương khiến người
ta hút thuốc và uống rượu để quên sầu. Tại Saigon, quán nhậu mọc ra như
điên, môt phần phục vụ tình thế, một phần vì sinh kế, vì mở quán nhậu là chuyện
dễ nhất lúc bấy giờ. Các quán này chỉ
có 2 lọai tiêu biểu: một là ông già chống gậy hiệu Vĩnh Tường hai là rượu
nếp than, cả hai thứ này đều phá nát cơ thể như nhau. Đặc biệt là
rươu nếp than ngọt và nhẹ nhưng uống nhiều thì say lâu và lúc tỉnh dậy thì ôi
thôi không biết lúc đó là tháng nào ngày nào nửa.
Anh Lễ, không nhậu, không phải vì anh không biết
nhậu, nhưng tính anh vốn điềm đạm, ngăn nắp như nghề kỷ sư công chánh của anh
nên anh đã thôi nhậu có lẽ từ ngày ở tù ra (dù là dân chính, anh cũng phải đi
tù như các quân nhân VNCH khác). Thế nhưng cái đám lâu la chung quanh anh
thì thôi thật là thần sầu quỉ khóc. Trong số đó có Hồng quang Anh, Bob
Chẩn, Định Giang và tôi. Tôi làm việc tại Bình Chánh, quê hương của rượu
đế. Lúc bấy giờ nổi tiếng nhất tại Sàigon về rượu đế chỉ có 2 nơi:
đế Bình Chánh và đế Hốc môn. Đế Bình chánh trong vắt sủi tăm giá cả lại
"bèo"(rẽ) vừa với túi tiền dân chơi như chúng tôi thời bấy giờ.
Lít rượu đế tôi mang về mỗi tuần đựng trong một bình plastic hình thù có dạng
cái "can" (Jericane?) chứa xăng của xe Jeep nhà binh chỉ chứa đúng 1
lít nên rất tiện.
Ở Bình Chánh so với tửu lượng dân địa phương miệt
vườn tôi đứng hạng 5 hạng 6, nhưng về thủ đô Saigon trung tâm Hồ Đăng tôi lại
là hạng nhất. Rượu đế tôi mang về thường có ngâm một ít võ quít đã nướng
khô, hay một thang thuốc Nam ngâm rượu hốt tại một ông thầy thuốc nam trong ty
y tế huyện BC nên màu rượu có môt chút óng ánh sắc vàng kém chi màu sắc của hennessy
hay là scotch whisky thủa trước? .
Người đối ẩm thường trực với tôi có lẽ là Bob Chẩn
và Hồng quang Anh, lâu lâu có Định Giang từ Huế vào và dĩ nhiên khi nào cũng có
chủ nhân cúa Hồ Đăng Gia Trang dù người đã phong kiếm quy ẩn. Các địa
điểm tập họp thường thay đổi tùy theo món nhậu và bà chủ quán có bực mình hay
không với đám khách ngồi mọc rể như chúng tôi. Thông thường là ngã bảy
Phan Thanh Giản vì nơi này có "bia hơi" (bia do chính phủ bán chứa
trong các bình bằng nhôm có nước đá nên hơi lạnh đóng mồ hôi ờ ngoài như
hơi) hay lề đường Cao thắng đối diện 2 cao ốc lớn dưới 4-5 gốc cổ
thụ. Chốn số hai này là nơi lý tưởng nhất vì các gốc cây cổ thụ kín đáo,
nơi dễ dàng cho dân nhậu chúng tôi trút bầu tâm sự khi cần thiết.
Tuy nhiên chổ quê hương vẫn là nơi đẹp nhất, đó là
nhà Anh Lể ở đường Phan Thanh Giản gần ngã bảy. Nơi đây, không khi nào
vắng tiếng cười đùa của bạn bè, vắng các câu chào hỏi tiếp chuyện của chị
Lễ. Chị Lễ cũng giống như, mọi phụ nữ Việt nam khác, dù trước kia cư ngụ
ở An Định Cung, cũng là "dân các mệ" chứ phải chuyện chơi đâu thế mà
lúc bấy giờ lúc nào cũng thông cãm với chồng và phục vụ tối đa các buổi nhậu
nhẹt trời ơi đất hởi của chúng tôi hồi đó. Đôi lúc chị còn tế nhị đến nổi
tự ý đớng góp vào các câu chuyện để anh em khỏi phải áy náy vì mình quấy phá
gia chủ quá nhiều chăng?
Về đến con hẽm đầu ngõ vào nhà, chúng tôi xuống xe
dắt bộ, vì con hẽm quá nhỏ so với tài lái xe lúc say rượu của HQA. Tôi
thương hại bào anh:
- Anh Anh!!! đưa xe đạp cho tôi để tôi dắt vào
cho thong thả.
Anh trợn mắt nhìn tôi:
-Đâu có được, nếu tao đưa xe cho mày, tao sẽ té
xuống đất liền !!! vì đâu còn cái gì để tựa?
Và cứ thế, bước thấp bước cao, tôi an toàn giao nộp
Hồng quang Anh cho phu nhân, cũng lại là môt hiền phụ Việt nam khác nửa, nuôi
con, phục vụ chồng, không một lời chì chiết trong những hòan cảnh gay go như
trên, trong những ngày lang thang, trong những đêm về muộn say khướt, quên cả
vợ con ngóng chờ, vẫn thường xảy ra như cơm bửa, chứ đâu phài ngày một hay ngày
hai gì cho cam.
Lạ lùng thay, chuyện đã lâu, tưởng chừng đã quên, mà
bây giờ khi nhớ lại cứ ngỡ như là mới hôm qua?
…….
Phạm Cơ