Kỷ niệm với Tôn Thất Ý,

 

Tôi không nhớ rõ quen biết với Tôn Thất Ý hồi nào. Từ khi còn học tiểu học, mấy lần tôi gặp Ý, có lẽ cũng không nói chuyện với nhau  nhiều, vì khi đó Ý là bạn của bạn tôi. Hình như nhà Ý ở gần Bao Vinh, khoảng cống Thanh Long. Có một điều tôi biết chắc là Ý biết tôi, và tôi biết Ý.

 

Mãi cho đến năm 1969, một lần Ý vào sở tôi, gặp nhau mà mừng, vì lâu lắm không gặp lại Ý. Ý nhờ tôi chỉ giúp cách làm thế nào để sang tên một chiếc Lambretta, vì hồ sơ sang tên xe gặp rắc rối, chủ nhân đã bán xe cho Ý rồi, mà Ý làm mất tờ giấy bán xe, nay không biết chủ cũ phiêu dạt về đâu trên 4 vùng chiến thuật. Mọi việc xong xuôi thuận lợi.

 

Năm 1971 hay 72 chi đó, tôi lên Ðà Lạt nghỉ mát và luôn tiện tham dự buổi lễ  lảnh bằng Cao Học Chính Trị Kinh Doanh, học mà chơi, chứ tôi biết mình chẳng bao giờ làm kinh doanh được cả. May mà không làm kinh doanh, chứ có làm thì e chỉ ôm đầu máu mà thôi. Tôi không nhớ làm sao mà tôi lại gặp Ý, lúc đó  đang dạy ở trường Võ Bị Ðà Lạt, và Ý giao chiếc xe Lambretta cho tôi mượn để di chuyển suốt trong thời gian tôi ở Ðà Lạt chơi. Ý có đem tôi đến nhà cô bạn gái, ăn cơm khuya, cô nầy tên là Lệ Hằng. Cái tên dễ nhớ, vì trùng tên với  một nhân vật nữ trong truyện trinh thám của Thế Lữ.

 

Khoảng năm 1973 , Ý được biệt phái về Sài gòn, dạy ở một trường trung học bên Khánh Hội. Tôi lại gặp Ý, lúc nầy Ý đang đi kiếm nhà ở. Tôi mời Ý về ở tạm nhà tôi tại cư xá Thanh Ða.  Tôi ở lô I trên lầu 4, tôi  giao căn nhà trệt ở Lô II cho Ý ở. Căn  nhà có 3 phòng ngủ, nên tôi thuê người giúp việc, nấu ăn luôn cho mấy tên độc thân, ăn uống tại căn  nhà trệt nầy. Chiều chiều, sau giờ tan sở, chúng tôi chèo thuyền,  bơi lội, tắm sông, và thả thuyền trên sông xuôi xuống Bình Quới. Cả một đám trẻ trung gần hai chục người, trên dưới 30 tuổi. Những ngày chủ nhật, bơi thuyền qua bên kia sông, trãi thảm, ăn uống, chuyện trò. Ban đêm ngồi quanh tán nhãm, uống trà, nói chuyện trên trời dưới đất. Những đêm trăng sáng, ra bờ sông câu cá, nấu cháo gà, ăn bên bờ sông. Bạn bè đông đảo, vui vẻ, lành mạnh. Thỉnh thoảng Ý có rủ tôi đi nhảy đầm, tôi đi theo Ý, nhưng có lẽ Ý thấy tôi không khoái trò chơi nầy lắm nên các lần sau Ý đi một mình. Thực tình, thì con trai độc thân, được ôm đàn bà con gái trong tay mà đi lui đi tới trong tiếng nhạc dập díu,  thì ai cũng khoái, nhưng vào các nơi đó ngộp thở, hơi người nồng nặc, (dù có máy lạnh) nên tôi không mấy thích. Chèo thuyền trên sông, có không khí trong lành, có thiên nhiên xanh mát, có tiếng cười của bạn bè, có những mái tóc bay theo gió, có những ánh mắt chan chứa, có tình bạn xa gần, thì vui hơn, lảng mạn hơn trong những phòng chật chội đèn mờ.

 Cuối tháng 3 năm 1975 nhiều gia đình di tản từ Huế vào, hai căn nhà tôi chật đầy bà con. Gia đình Ý cũng từ Huế vào. Ý dọn nhà qua lô K ( hay Lô P, quên )  cho hai bác và cô em được rộng rãi, căn nhà nầy của Tôn Thất Cẫm mua. Cẫm là em ruột Ý, đang dạy học ở Tuy Hòa.

 

Cả Ý lẫn tôi đều đi tù cải tạo. Tôi được về trước Ý. Sau khi đi tù cải tạo về, cả Ý lẫn tôi đều chạy theo những cuộc vượt biên. Ý và tôi thường gặp nhau để trao đổi tin tức  vượt biên. Một lần, Ý đi về khuya, xe cán ổ gà, Ý ngã và gảy hết ba bốn cái răng cửa, phải nằm bệnh viện. Tôi và bà xã tôi ( lúc nầy chưa lấy nhau)  vào thăm Ý tại bệnh viện, cái miệng trống rốc, không còn răng cỏ chi cả, và hình như phải húp cháo. Mấy món quà chúng tôi mang vào, không biết Ý có ăn được hay không.

 

Cả tôi lẫn Ý, đều đi vượt biên nhiều lần mà không thoát. Năn 1978 tôi móc nối được một tổ chức vượt biên ở Nha Trang. Tôi và Ý cùng đi ra Nha Trang, tôi nhờ Ý hướng dẫn một toán chừng 5 hay 6 người chi đó. Ý đem toán nầy về ẩn nấp tại nhà bà chị tại Nha Trang. Tôi hướng dẫn toán khác, ở Nha Trang hai  ngày, bị trục trặc, tất cả đều về lại Sài giòn an toàn, không ai bị  tóm cả. Tôi có ghé nhà bà chị của Ý tại Nha Trang, nằm trên võng, lòng buồn khủng khiếp vì cuộc vượt thoát không thành. Khi đi ra khỏi thành phố, thì phải có giấy tờ di chuyển, tôi nhờ cô em vợ là một họa sĩ, tốt nghiệp cao đẳng Mỹ Thuật khắc cho con dấu giả, và in giấy " giới thiệu" ( hồi trước gọi là sự vụ lệnh), nhờ vậy, cả đám mới mua được vé xe, vé tàu, và có giấy tờ xuất  trình khi đi đường bị công an khám xét. Ý giữ con dấu giả, khi về lại Sài Gòn, anh sợ quá, ném con dấu xuống bồn cầu và giật nước cho thoát đi. Khi tôi hỏi cái con dấu, thì không còn nữa, làm tôi tiếc quá chừng. Nhưng có lẽ cũng nhờ mất cái con dấu rất thô sơ đó, mà nhiều lần sau, chúng tôi không bị bại lộ là xài giấy giả. Vì sau nầy, có người tạo con dấu giả, và cung cấp giấy tờ giả, còn sắc nét , đẹp hơn cả con dấu thật nữa.

 

Một lần khác, em của Ý là anh Tôn Thát Cẩm, tổ chức vượt biên tại Tuy Hòa. Người bà con bên vợ anh Cẩm, là anh Bữu vào Sài gòn, kêu Ý và tôi cùng đi, anh Bữu vào buổi tối, thì sáng sau chúng tôi vội lấy xe đò đi thẳng ra Tuy Hòa. Tôi đem bà xã theo, anh Ý cũng đem cô bạn gái theo. Bà xã tôi và cô bạn gái của Ý tạm trú tại nhà anh Bữu. Chị Bữu nói với bà xã tôi : “Hai anh em ông nầy da ngăm den, mà kiếm được hai cô vợ trắng như trứng gà bóc, và đẹp nữa”.  Tối hôm đó, anh Cẩm đi chôn dấu dầu, bị du kích địa phương bắt được.  Bọn du kích muốn lấy dầu bán chia nhau ăn nhậu, nếu bắt nhóm anh Cẩm, thì mấy thùng dầu phải đem nạp cho cấp trên, nên họ hỏi mấy thùng dầu nầy của ai? Anh Cẩm bảo là chúng tôi không biết, chúng tôi đi làm cá, mới tạt qua đây thôi. Thế là anh Cẩm thoát nạn. Mua dầu không phải dễ, nên chúng tôi lại tất tưởi chạy về Sài gòn lại. Hai tháng sau, dầu đã chôn sẵn, anh Bữu lại vào Sàigòn báo cho chúng tôi ra Tuy Hòa gấp để đi. Ý lại đem cô bạn đi theo, tôi đem bà xã. Tôi đến nhà anh Cẫm trốn trong phòng riêng trên lầu ba, để bàn tính kế hoạch. Bà nhạc gia anh Cẫm là cọng sản nằm vùng, hăng hái với "cách mạng" lắm. Bà mà biết được thì tố cáo ngay, và bà không bao giờ muốn con cháu bà chạy theo chân đế quốc. Xui cho chúng tôi, anh Cẫm vì lo lắng quá, nên bao tử chảy máu, phải nằm liệt. Nhưng anh Cẫm cũng hy vọng sẽ bớt bệnh, và chúng tôi có thể khởi hành trong một vài hôm sau. Tôi trốn bằng cách nằm chung giường với anh Cẫm, và cũng đắp chăn để che dấu. Mỗi khi có người vào phòng, thì tôi lăn xuống sàn, bên cạnh tường, và nằm yên dưới giường, cho đến khi người ta di ra, thì tôi lại leo lên. Có lần, cô em vợ anh Cẫm nói với anh Cẫm :" Em thấy, giống như có ai nằm với anh trên giường nầy" Anh Cẫm chối liền. Tôi lo lắm. Khuya đó, anh Cẫm bị xuất huyết bao tử quá nhiều, té ngã, xỉu,  phải kêu y tá đến chích thuốc. Nhiều người đứng xúm xít quanh giường, nào chích thuốc, nào bàn tán, tôi nằm trốn dưới giường lo lắm, lỡ họ làm rớt cái gì, cúi xuống lượm, phát giác ra, thì tôi biết ăn nói làm sao bây giờ. Làm sao mà giải thích được nằm dưới giường làm chi? Khai là ăn trộm, thì cũng bị giải ra công an, và lòi ra tội vượt biên.  Khai là bạn anh Cẫm, thì không được, vì như thế, làm liên lụy thêm anh Cẫm nữa. Tôi lo và mệt quá, nên ngủ thiếp đi và ngáy rất lớn. Tôi giật mình khi nghe ai đó nói " Mở mắt mà ngáy to quá chừng" Có lẽ ai đó tưởng anh Cẫm ngáy, chứ không phải tôi ngáy. Khi đó, có lẽ anh Cẫm cũng mệt lã đi, và có lẽ anh cũng lo lắng không thua gì tôi. Anh Ý lúc nầy, đang tá túc tại một căn nhà khác. Không dám lộ diện, sợ thiên hạ đoán được chuyện vượt biên. Suốt mấy giờ liền, người ta đứng quanh giường anh Cẩm để săn sóc cho anh. Tôi nằm mà run, sợ. Bị bắt được là đi tù lại, không biết bao giờ về để đi tìm tự do.

 

Sáng sớm khi trời còn mờ mờ, anh Cẩm mở cửa cho tôi đi ra bằng ngõ sau. Cuộc đi phải hoãn lại, chúng tôi lại hốt hoảng ra bến xe, mua vé trở về Sài gòn. Họ hỏi chúng tôi đi đâu đây, chúng tôi khai là đi thăm người nhà đang học tập cải tạo tại trại A30 Tuy Hòa. Về lại Sài gòn mà xơ xác và mừng.

Anh Ý và tôi để hết thì giờ lo cho cuộc đào thoát, và liên lạc thường xuyên. Mấy tháng sau, anh Ý báo cho tôi biết anh Cẩm đã đi rồi, và không kịp kêu chúng tôi. Khi đó anh Cẩm còn nằm trong bệnh viện, chữa bệnh bao tử, thì những người tổ chức vượt biên đến báo cho anh Cẩm rằng, họ không thể chờ anh Cẩm được, họ phải đi ngay. Anh Cẩm vùng dậy, chạy về nhà, nhờ người nhà đến trường kêu chị Cẩm đang dạy học ra về, anh chở chị và con lên xe Vespa mà chạy vể hướng vịnh phía bắc, và bỏ xe bên đường, xuống vực dốc đứng, là điểm hẹn, để ra đi. Theo đúng kế hoạch của chúng tôi đã vạch ra: Khi ra gần hải phận thì treo cờ Nhật để thuyền VC không dám bắt bớ. Thuyền anh được tàu Nhật cập đến gần, ban đầu họ không chịu vớt, nhưng sau thấy đàn bà, trẻ con, rất nguy hiểm cho tính mạng, họ vớt về Nhật. Thuyền nhân đến Nhật, thường phải đi làm lao động chân tay, nặng nhọc, như khuân vác, đập đá và ít thấy tương lai. Chỉ có tự do là sướng.  Mấy năm sau, anh Cẩm may mắn xin qua Úc Châu.

 

Anh Ý và tôi liên lạc thường xuyên, để trao đổi tin tức. Có nhiều khi đang nói chuyện, thì công an giả vờ di qua nghe xem chuyện gì, thì chúng tôi bắt qua chuyện trồng khoai, trồng sắn, phân bón... Sau khi thất bại hơn chục lần, Tết năm 1979, mấy người bạn kêu tôi đi vượt biên. Tôi xuống một chiếc thuyền ba lá, đuôi tôm, ở ngay cầu Phan Thanh Giản. Thật tình lúc nầy, chúng tôi đã quá sức chán sống với cái chế độ kỳ cục, cực kỳ khắc nghiệt , thiếu tự do, nên bình tỉnh leo lên chiếc thuyền bé tí teo để đi ra biển, và mong được chết giữa khơi, ngoài hải phận quốc tế, giữa vùng trời tự do, là hả dạ, là sung sướng. Chiếc thuyền cà rịch cà tang đi về Cà Mau để đi ra cửa Ghềnh Hào. Thuyền chết máy trên sông nhiều lần, kéo lên bờ sửa nhiều lần. Nhưng chúng tôi đã quyết, nên vẫn ra đi.

 

Sau nhiều ngày lênh đênh, thuyền chết máy, chúng tôi dạt vào Mã Lai. Tôi đến Mỹ vào cuối năm 1979 ở Pennsylvania, và được bà xã tôi ở VN báo là anh Ý đã đi được rồi, đã có tin tức về nhà. Cô em anh Ý vui  vẻ nói với bà xã tôi: "Hai ông nầy mà đến Mỹ thì tha hồ mà đi nhảy đầm."

 

Ðầu năm 1980 tôi may mắn tìm được việc trong nghề cũ tại Washington State. Một hôm tôi nhận được thơ của người bạn gái anh Ý ( thơ chuyển từ địa chỉ cũ về)  cô nầy, đã cùng anh Ý đi vượt biên nhiều lần không thoát. Nay hai người đi riêng, thì đều thành công.  Cô nầy đang ở trại tị nạn Mã Lai. Trong thơ, cô hỏi tôi, có phải anh Ý đã cưới vợ phải không? Yêu cầu cho cô biết rõ, đừng dấu diếm. Vì cô thấy trên báo, ở Texas đăng tin chúc mừng đám cưới Tôn Thất Ý. Theo suy luận của tôi, nếu anh Ý có đến được Mỹ rồi , thì e cũng mới được vài tháng, làm chi mà tài tình đến thế? Việc vàn chưa có, chưa hoàn hồn, thì làm sao mà lấy vợ được? Và điều tôi tin nhất, là có lẽ anh Ý không phụ mối tình của cô nầy đâu. Tôi trả lời thư là tôi chưa biết anh Ý ở đâu trên đất Mỹ, và không nghĩ lá anh Ý cả gan cưới vợ trong một hoàn cảnh như thế nầy. Và có ai đó trùng tên chăng.( Có lẽ khi nầy, anh Ý còn ở đâu bên trại tị nạn Nam Dương, chưa đến được Mỹ)  Tôi yêu cầu cô liên lạc anh Ý, và nếu có địa chỉ thì của Ý, thì cho tôi, và tôi viết hết suy luận thông thường cho cô. Tôi tin là anh Ý không bao giờ bỏ cô, và nói cô yêu cầu anh Ý bảo lảnh gấp. Nếu có gì, thì tôi sẽ liên lạc với mấy hội nhà thờ, nhờ bảo trợ cho cô. Có lẽ  cô tự ái, và giận, ghen, nên bỏ đi Canada, nghe nói lấy chồng khi đang tại đảo. Tôi nghiệp anh Ý, mất một cô bạn gái tính tình dễ thương, đẹp, dịu dàng. Tôi nghĩ, sau khi đến Canada, cô biết là nghĩ lầm, vì khi ở đảo, ai cũng tưởng là đến Mỹ, thì sung sướng, giàu có ngay, và hưởng thụ ngay, chứ không phải vất vả gì cả.

 

Anh Ý từ Nam Dương đến Mỹ, có lẽ vảo giữa năm 1980, và  về Dallas. Thỉnh thoảng chúng tôi có liên lạc, và hàng năm gởi thơ chúc Tết. Lúc nầy, tôi  được biết anh Ý đã sống chung với một bà nào đó,  bà nầy đã có con riêng rồi. Thế thì cũng tốt, có được một người chia vui xẻ buồn giữa quê người đỡ lạnh lẽo, cô quạnh. Khoảng năm 1989 hay 1990 chi đó,  tôi đang ở San Francisco, chuẩn bị đi chơi Canada, đã thuê xe, xin phép nghỉ, thì nhận được điện thoại anh Ý, báo cho biết là sẽ sang thăm tôi vào thời gian tôi đi Canada. Tôi cho biết là tôi đã có chương trình đi xa vào thời gian đó rồi. Có lẽ anh Ý tưởng đâu tôi không muốn tiếp anh, cho  nên buồn , và mấy năm sau, tôi gời thiệp chúc Tết , mà không nhận lại tin tức. Tôi có điện thoại cho anh Ý nhiều lần mà không được. Chừng năm năm trước đây, anh Ý điện thoại cho tôi, nói là về Việt Nam đi tìm vợ. Tôi hỏi bà vợ ở Dallas đâu rồi? Anh Ý nói là hai người sống chung, không giấy tờ chi cả, và nay thì không hợp, nên tan vỡ. Hình như anh Ý có một đứa con gái với bà nầy. Chuyện gia đình tan, hợp trên nước Mỹ nầy là chuyện hà rầm, xẫy ra cho đủ sắc dân. Khi gia dình tan vỡ, thì không nên đổ lỗi hoàn toàn cho bên nào cả. Bên nào cũng có một phần lỗi, một phần phải, và ai cũng chỉ nhìn vào cái phải của họ mà thôi, không nhìn vào cái phải của người khác.

 

Khoảng hơn một năm nay, thỉnh thoảng tôi nhận được e-mail của anh Ý, và cả tấm hình đám cưới của anh Ý với bà vợ mới ở Việt Nam, nghe đâu do bà chị giới thiệu. Thấy hình vợ mới của anh Ý, một anh bạn đùa rằng, sao về VN lấy vợ, mà không chọn cô 20 tuổi, thật đẹp, mà lại chọn cô nầy, lớn tuổi rồi? Tôi thì nghĩ là anh Ý chín chắn, muốn xây dựng hạnh phúc lâu dài, muốn yên ổn sống. Các cô còn trẻ, chộn rộn và mơ mộng nhiều thứ lung lung lắm. Tôi nghĩ thêm, là một kỵ sĩ có tuổi tác, thì nên cưỡi con ngựa già, đi thong dong, từ từ, khỏe khắn hơn là cưỡi con ngựa Long Câu  non, chạy ngàn dặm một ngày, sức già chịu chi cho thấu. Trong thời gian sau, nhóm bạn cũ  thường e-mail cho nhau, đều có bản sao cho anh Ý, nhưng có lẽ anh Ý  đang vui duyên mới, bận rộn nhiều chuyện lắm, cho nên ít thì giờ viết thơ cho bạn bè thường xuyên .

 

Tháng 12 năm nay, anh Phan văn Tá ở Orange County điện thoại cho tôi biết, đọc báo thấy ban Văn Hóa Vụ Võ Bị Ðà Lạt phân  ưu về cái chết của anh Tôn Thất Ý. Lần nầy, tôi cũng mong sao anh Ý nào đó trùng tên, chứ không phải anh ý bạn chúng ta. Nhưng nghe Văn Hóa Vụ Võ Bị Ðalạt, thì tôi biết  chắc là bạn chúng ta.

Nhờ các bạn Hồ Ðăng Ðịnh, Nguyễn Công Thuần dò la tin tức, thì biết rõ anh Tôn Thất Ý bạn chúng ta đã bị tai nạn xe hơi trong khi tập lái xe cho vợ. Anh Ý chết ngay tại chỗ, bà vợ được đưa vào nhà thương mới từ trần.

 

Không ai muốn chết, nhưng ai rồi cũng sẽ phải chết. Chúng ta sẽ gặp nhau ở một điểm hội tụ nào đó. Không gần thì xa. Riêng tôi, nghĩ rằng, hai mươi mấy năm nay được sống trong an bình, tự do, thì tôi đã quá lời rồi. Nếu hôm sau Phật , Chúa có kêu tôi, thì tôi cũng xin vui vẽ  “dạ” và cám ơn, không một chút tiếc nuối, kỳ kèo gì cả.

Thơ nầy, để tưởng niệm một người bạn cũ đã khuất, anh Tôn Thất Ý.

 

           NT