“NGUYỄN HUỆ -
NGUYỄN ÁNH”
MAY MẮN HAY BẤT
HẠNH CỦA LỊCH SỬ ?
Bài
viết : NGUYỄN VĂN SA.
Lịch sử là một chuỗi sự kiện phản ảnh quá trình tiến hóa để tồn tại của
dân tộc trên nhiều lãnh vực.
Đặc biệt, không ít những sự kiện còn in đậm
dấu ấn của những nhân vật đã góp phần chi phối mạnh mẽ đến sự thịnh suy của đất
nước. Nhưng sau những thăng trầm, đâu phải lúc nào hậu thế cũng đánh giá đúng
tầm vóc lịch sử cùng bản chất đời thường vốn sẵn của họ?
Do đâu vẫn còn đó trong từng trang được gọi
là chính sử đôi điều đáng tiếc, nếu không bắt nguồn từ những con người trót
được mệnh danh là những nhà viết sử !
SỬ GIA & SỰ KIỆN
Đã gọi là sự kiện lịch sử tất tự thân không thể có sự đổi thay, song diễn
dịch chúng như thế nào điều ấy vẫn còn tùy thuộc vào quan điểm của những nhà
viết sử.
Nếu nhà viết sử là công cụ của triều đại, nội dung sự kiện sẽ được nhào
nặn theo chiều hướng thuận lợi cho dòng họ hay thế lực đương quyền. Họ chính
thực là công thần của dòng họ vua chúa hoặc thể lực ấy chứ chưa phải là một sử
gia đúng nghĩa.
Nếu viết sử chỉ để miêu tả hiện thực, người
viết sử sẽ chẳng hơn kém gì một nhân viên văn thư ghi chép nhật ký hành chính,
đáng trân trọng chăng về tính cần mẫn ở vị trí của một công bộc mà thôi.
Một sử gia đích thực thì khác, ngoài lòng yêu
nước còn phải hội đủ những tố chất lẫn ý thức trách nhiệm khác nữa: trí phán
đoán, tính khách quan, sự dũng cảm và lòng chính trực… Không chỉ chép đúng, sử
gia còn phải lý giải được tính muôn mặt của mỗi sự kiện nhằm thuyết phục tầng
lớp thống trị cùng lúc dẫn dụ được quãng đại quần chúng nhìn nhận vấn đề theo
một ý nghĩa tích cực nhất.
Chuyện kể về Đổng Hồ nhà Tấn (Đông Chu Liệt
Quốc):
“Di Cao tức Tấn Linh công vô đạo, mưu giết
tướng quốc Triệu Thuẫn. Thuẫn bỏ trốn, gặp cháu là Triệu Xuyên can hãy đợi chớ
đi. Liền đó, Xuyên đến Đào Viên cùng giáp sĩ giết vua. Thuẫn vốn trung nghĩa,
không lấy thế làm hài lòng. Một hôm
sang sử quán thấy bản thảo chép việc cũ - “Thu Ất Sửu, Triệu Thuẫn giết vua Di
Cao ở Đào Viên!” Thuẫn kinh hãi bảo
-“Thái sử lầm rồi ! Ta đã chạy xa kinh thành hai trăm dặm khi sự thể xẩy ra,
sao đổ lỗi cho ta?”. Đổng Hồ nói - “Làm
tướng quốc chưa ra khỏi địa giới nước nhà đã xẩy ra chuyện giết vua, lúc về lại
không trị tội kẻ nghịch thần. Bảo việc
này không do ngài chủ mưu thì ai tin ?”.
Thuẫn hỏi chữa kịp không, Hồ thưa - “Đã gọi là tín sử thì có thế nào
phải chép thế đó, nên đầu tôi có thể cắt chứ không thể chữa được”. Thuẫn thở
dài - “Thế mới biết quyền chép sử trọng hơn quyền tướng quốc. Tiếc thay, ta
chưa ra khỏi địa giới để phải chịu tiếng muôn đời !”.
Đáng khen thay họ Đổng, nhưng liệu ông ta có
dám quyết trong trường hợp Triệu Thuẫn là một tướng quốc bất nhẫn và việc giết
một hôn quân vô đạo có hàm ý vị quốc hay tham vọng cá nhân ?
Đổng Hồ có làm sáng tỏ sự cố ấy theo tinh
thần một sử gia hay chỉ hoàn thành nhiệm vụ của một viên quan chép sử ?
Phải chăng cũng bắt nguồn từ một nguyên nhân
như thế mà hằng trăm năm sau, khi ấn tượng hãi hùng về những trang sử tắm máu
cuối đời hai triều Lý-Trần ít nhiều phai nhạt, hậu thế mới thừa nhận tài chỉnh trị vô
song của thái sư Trần Thủ Độ lẫn tính cách mạng qua những cải cách của Hồ Quý
Ly, thay vì cả hai
phải chịu tiếng gian hùng hay tiếm ngôi ?
Thật đáng sợ hệ quả của ý niệm “giang sơn là
riêng của một dòng họ” hay “vua là con trời, dân là con đỏ” đã ăn sâu vào tiềm
thức người dân qua các thời đại phong kiến. Từ đó, nẩy sinh một sự đánh giá
thiên lệch về người lẫn sự kiện chỉ thuần dựa trên cảm tính và sự tồn tại bền
lâu hoặc ngắn ngủi của kẻ thắng người bại, sau các cuộc mưu đồ “được vua thua
giặc” ?
Thử hỏi nếu cuộc chính biến êm đềm cuối triều
tiền Lê và biến cố nhằm giành ngôi báu từ Lý sang Trần (1) kéo dài chỉ với một
đời Lý Công Uẩn hoặc Trần Cảnh, liệu Lý và Trần có được xem là chính thống ?
Tính chính thống do đấy vẫn còn tùy thuộc vào
quá trình chứng thực sau cuộc thay ngôi đổi chủ. Liệu kẻ xưng hùng hay tiếm
ngôi có củng cố được một hệ thống cầm quyền vững chắc, lập những kỳ tích ổn
định và xây dựng đất nước cụ thể như triều Lý mang lại sự thịnh trị cho nhân
dân hoặc nhà Trần ba lần đại phá Mông Nguyên cứu nguy dân tộc, sau khi loại bỏ
hậu duệ của các tiên triều thường vốn yếu hèn và biến chất ?
Sự thành bại về mặt an sinh quả là một yếu tố
quyết định. Nói cách khác công và tội của những nhân vật lịch sử, lắm lúc cần
phải được thẩm xét một cách nghiêm túc và công bằng hơn.
Trong tinh thần ấy, chúng ta thử lần lại một trường hợp lịch sử khác
thường về Thái tổ Võ hoàng đế Nguyễn Huệ và Thế tổ Cao hoàng đế Nguyễn Phúc Ánh
(2) nhằm tự hỏi : liệu sự đánh giá từ trước đến nay về sự nghiệp của hai nhân
vật này có hoàn toàn đầy đủ và chân xác ?
Bởi tinh thần thượng tôn pháp
luật vốn không cho phép bất cứ ai viện dẫn như một sự hồi tố công lao của chính
mình nhằm biện minh cho những hành vi phạm pháp đương thì, thì trái lại sẽ bất
công quá chăng nếu chúng ta chỉ thuần dựa vào một đối sách bất cập (3) mang
tính tình thế, rồi phủ nhận toàn bộ thành quả của một nhân vật gần như tượng
trưng cho cả một triều đại. Nhất là ngay đang khi tại vị, nhân vật trong cuộc
này đã ý thức nhằm sửa sai (4) những di căn trót bắt nguồn từ một sự chọn lựa
trong quá khứ ?
Đấy là chưa loại trừ dã tâm “giăng bẫy” của
thực dân phương Tây qua chiêu bài chi viện khí tài, tận dụng sự mâu thuẫn nội
bộ tại các quốc gia nhược tiểu hòng khống chế và bảo hộ, chiếm lĩnh và bành
trướng thuộc địa.
Để đi đến một nhận định khách quan về trường
hợp lịch sử khác thường này, tưởng chúng ta cần phải gạt sang bên từng luận
điểm một chiều của các tay chép sử dù thuộc trường phái này hay trường phái
kia. Như những câu chuyện hoang đường
ghi trong Đai Nam Chính biên Liệt truyện của dòng họ Nguyễn Gia Miên chẳng hạn,
nhằm xuyên tạc ý định dời đô ra Nghệ An cũng như “nghi vấn” về cái chết bất
thần của Nguyễn Huệ (5) khi đang còn rất trẻ.
Ngược lại với nhà Nguyễn cũng thế, chúng ta
hãy cho lắng xuống bao mối bất bình (nếu có) về tham vọng “khôi phục nghiệp
chúa bằng mọi giá” cùng cách hành xử cạn tình của Nguyễn Ánh đối với vua tôi
Tây Sơn sau ngày toàn thắng.
Chúng ta cũng khoan xét tới yêu cầu nặng mang
tính đấu tranh giai cấp vốn là một yếu tố chính trị hiện thực, phụng sự cho một
thời kỳ cách mạng “bài Phong đả Thực” của dân tộc vào những thập niên đầu thế
kỷ 20. Ngõ hầu có được một cái nhìn đạt
lý hơn về sự trùng phùng của hai con người “Huệ và Aùnh” mà lằn ranh phân định
giữa sự bất hạnh và may mắn quá đỗi mong manh.
Một khía cạnh tế nhị khác, rằng lòng yêu nước
đâu chỉ để độc quyền xưng tụng các bậc cái thế, những chiến tích lẫy lừng, sự
hùng vĩ hay các kỳ quan… Lòng yêu nước
còn phải được thể hiện chung cho những phần lãnh thổ đìu hiu, từng nỗi đau chiến
bại lẫn vô vàn tình huống bi thương khác nữa. Có như thế mới lý giải được phần
nào giá trị của những vinh nhục, giải phóng được phần nào từng nỗi oan khuất
đầy tính bi kịch của tiên nhân.
Và đây sơ lược tình hình chính trị đất nước
trước ngày Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh chào đời:
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê dựng
ra Bắc triều ở Thăng Long (triều Mạc). Năm 1533, Nguyễn Kim tìm con cháu nhà Lê
lập nên Nam triều tại Thanh Hóa (nhà Lê trung hưng).
Kim mất, rể là Trịnh Kiểm nắm quyền củng cố
vai trò chúa Trịnh (đàøng Ngoài) lấn át nhà Lê và vô hiệu hóa vai trò nhà Mạc
kể từ 1592 (6).
Con của Kim là Nguyễn Hoàng nhận rõ mối hiểm
họa từ phía Trịnh, xin vào trấn Hóa Châu (1558) tạo dần một thế lực mới tức
chúa Nguyễn (đàng Trong) lần lượt mở mang bờ cõi đến tận cực Nam tức Cà Mau
ngày nay.
Từ đó Trịnh và Nguyễn lấy sông Gianh (Quảng
Bình) làm giới tuyến, mở đầu một thời kỳ phân tranh lâu dài nhất trong lịch sử
(1558-1786).
Năm 1655, quân Nguyễn lần đầu tiên chủ động
tấn công quân Trịnh chiếm Nghệ An. Sau liệu không giữ được bèn rút về mang theo
những di dân, trong số có tổ tiên họ Hồ vào ở vùng phía trên đèo An Khê lập nên
ấp Tây Sơn.
Giữa thế kỷ 18, một người là Hồ Phi Phúc theo
vợ về sống tại Kiên Mỹ (Bình Định). Họ sinh hạ được ba con (đời thứ tư) đấy
chính là ba anh em nhà Tây Sơn : Nhạc, Huệ và Lữ. Lớn lên cả ba chuyển sang họ Nguyễn (họ nhà chúa ?) hẳn để thuận
thời và xóa bỏ mặc cảm cách biệt với cư dân bản địa, hầu hết vốn là con cháu
của những di dân thân thuộc nhà Nguyễn thuở đầu Nam tiến ?
Việc đổi họ phải chăng còn manh nha từ một ý
tưởng mang tính chiến lược cho cuộc dấy nghĩa sau này của nhà Tây Sơn ?
Nguyễn Huệ sinh năm 1753 trong một môi trường
dân giả, chín năm sau Nguyễn Ánh chào đời (1762) thuộc dòng dõi quyền quí: lịch
sử đã có một cuộc trùng phùng, bất hạnh hay may mắn ?
Không như tuổi thơ hồn nhiên của Nguyễn Huệ,
ngay từ khi còn bé Nguyễn Ánh đã mồ côi cha (7). Anh em mất sớm, chỉ mình
Nguyễn Ánh sống sót trong sự bất an do tự thâm cung nhà chúa đầy dẫy những cuộc
tranh chấp quyền bính.
Năm 1771, Nguyễn Huệ 18 tuổi là một trong
những thủ lĩnh nòng cốt của phong trào Tây Sơn do Nhạc khởi xướng. Việc góp
phần diệt Trương Phúc Loan của Nguyễn Huệ không đơn thuần loại bỏ một tên tham
quan, đấy còn là một hành động giúp Nguyễn Ánh gián tiếp trả được mối gia thù
và thoát khỏi một sự thanh trừng nội bộ rất có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.
Nguyễn Huệ vô tình có là vị ân nhân đầu đời của Nguyễn Ánh?
Năm 1774 quân Trịnh tấn công Phú Xuân, cùng
lúc Tây Sơn đánh Quảng Nam khiến chúa Nguyễn Phúc Thuần phải giao trọng trách
lại cho Đông cung Nguyễn Phúc Dương để lánh vào Gia Định (mang theo Nguyễn
Ánh).
Trịnh lại vượt Hải Vân, quân Tây Sơn yếu thế
đành rút về Quy Nhơn. Nhằm hoãn binh, Nhạc dâng thư tình nguyện làm quân tiền
khu cho Trịnh đánh Nguyễn. Trịnh mừng, sai Nguyễn hữu Chỉnh mang ấn kiếm vào
phong Nhạc chức Tráng Tiết Tây Sơn Hiệu Trưởng trước khi cho quân lui về Thuận
Hóa (1775).
Năm 1777 Nguyễn Huệ xuôi Nam chiếm Trấn Biên,
Gia Định, Vĩnh Long… làm chủ tình hình đàng Trong thì Nguyễn Ánh đúng tuổi 15
thoát xuống An Giang nằm gai nếm mật (Thuần và Dương bị Tây Sơn giết).
Nhạc xưng đế (Thái Đức, 1778) phong Nguyễn
Huệ làm Tiết Chế thống lĩnh quân Tây Sơn.
Phía nhà Nguyễn, Nguyễn Ánh (18 tuổi) nghiễm
nhiên kế vị ngôi chúa quy tụ lực lượng phản công tái chiếm Gia Định, Bình Thuận
và xưng vương (1780).
Năm 1782 tại cửa biển Cần Giờ, thủy binh cùa
Nguyễn Ánh có tàu đồng đại bác (Pháp, Bồ đào Nha) yểm trợ, chạm trán để rồi
thua tan tác trước lực lượng thuyền chiến của anh em Nguyễn Huệ từ Qui Nhơn
vào.
Nguyễn Ánh trốn ra Phú Quốc, sai người sang Xiêm cầu viện: kể từ đấy, cả
hai Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh thực sự trở thành
đối thủ không đội trời chung của nhau.
Mỉa mai thay, qua việc truy bức chúa Nguyễn đến phải tử vong: ai đã
chính thức mở lối cho Nguyễn Ánh khởi đầu vương nghiệp (1780) nếu không là
Nguyễn Huệ ?
Cuối 1782 bộ tướng của nhà Nguyễn tái chiếm
Gia Định, rước Nguyễn Ánh từ Phú Quốc về.
Đầu năm sau Nguyễn Huệ cầm binh trở vào, quân Nguyễn bị tiêu diệt. Nguyễn Ánh lại ra Phú Quốc, cho con đầu là
hoàng tử Cảnh làm con tin theo Bá đa Lộc (giám mục Pháp) sang Pháp cầu viện.
Năm 1784, Nguyễn Ánh (22 tuổi) được vua Xiêm
giúp 300 thuyền và 3 vạn binh kéo về Gia Định hãm thành, bị thảm bại trước
Nguyễn Huệ ở Rạch Gầm - Xoài Mút (1785). Nguyễn Ánh lại sang Xiêm, vua Xiêm
muốn giúp một lần nữa nhưng do bầy tôi (8) can ngăn Nguyễn Ánh đành từ chối và
lang bạt ở vùng Hà Tiên đến phải xin cơm nhà dân.
Năm 1786 Nguyễn Huệ đánh Phú Xuân, ngoài Võ
văn Nhậm và Nguyễn văn Lộc còn có Nguyễn hữu Chỉnh cùng đi. Vốn là một tay giảo
hoạt trước thờ Hoàng đình Bảo (tôn phò Trịnh Sâm nên bị kiêu binh giết) nay
trốn vào Nam quy thuận Tây Sơn, Chỉnh nhân cơ hội thuyết phục Nguyễn Huệ lấy
danh nghĩa “diệt Trịnh phò Lê” tiến thẳng ra Bắc.
Nguyễn Huệ bèn giao Lữ giữ Phú Xuân rồi cử
Chỉnh mang thủy binh đi trước, đích thân Nguyễn Huệ cùng Nhậm kéo bộ binh theo
sau, hẹn sẽ hội quân ở Vị Hoàng tiến ra Thăng Long.
Nguyễn Huệ ra Bắc lần
thứ nhất (6- 6 Bính Ngọ tức 1-7-1786).
Trịnh Khải cho quân nghinh chiến nhưng thua.
Thành Sơn Nam mất, Trịnh Khải trốn lên Sơn Tây đến Hạ Lôi thì bị bắt và tự
vẩn. Nguyễn Huệ vào Thăng Long
(21.7.1786) chính thức xóa sổ họ Trịnh, thống nhất đàng Trong với đàng Ngoài.
Hôm sau yết kiến Lê Hiển Tông tại cung Vạn
Thọ, Nguyễn Huệ được vua phong làm Nguyên soái Uy quốc công và gả Ngọc Hân công
chúa. Ngày 17 tháng 7 Bính Ngọ (10.8.1786) Hiển Tông băng, hoàng tôn Lê Duy Kỳ
nối ngôi tức Lê Chiêu Thống.
Sợ rằng Nguyễn Huệ một phương lừng lẫy khó
kềm, Nhạc từ Qui Nhơn cấp tốc mang 500 quân tín cẩn ra gọi khéo về. Nguyễn Huệ
biết ý, đón dâng tờ trình rồi giữa đêm 17.tháng 7 nhuận (9-9-1786) cùng Nhạc về
Nam bỏ mặc Chỉnh.
Chỉnh hoảng hốt chạy theo xin được trấn giữ
Nghệ An cùng Nguyễn Duệ và Nguyễn hoàng Đức, còn Võ văn Nhậm (rể của Nhạc) đóng
ở Đông Hải trông chừng mặt Bắc.
Nhạc phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương (cai
quản từ Thuận Hóa trở ra) và Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương Trấn Biên (Bình
Thuận trở vào) riêng Nhạc tự phong Trung Ương Hoàng Đế đóng tại Qui Nhơn.
Ở đàng Ngoài, Lê Chiêu Thống chưa kịp yên vị
thì Trịnh Bồng đã tự xưng. Chỉnh được
mật gọi, ra đuổi Bồng rồi mặc sức thao túng.
Hay tin, Nguyễn Huệ lệnh Võ văn Nhậm ra giết Chỉnh (Chiêu Thống hoảng sợ
bỏ trốn sau khi sai người cầu viện nhà Thanh).
Xong việc, Võ văn Nhậm lại tự tung tự tác mưu lập Lê Duy Cẩn, bị Ngô văn
Sở cáo biến vào Phú Xuân.
Nguyễn Huệ ra Bắc lần
thứ hai (tháng 4 Mậu Thân, khoảng tháng 5.1788)
Chỉ trong 10 ngày giết Nhậm, chừng non tháng
thì quay về giao đàng Ngoài cho Sở cùng Ngô thời Nhiệm (danh sĩ Bắc Hà) lo việc.
Nguyễn Ánh lợi dụng thời cơ, từ Gia Định phản
công khiến Lữ phải rút.
Tháng 10 năm Mậu Thân (1788) Tổng đốc Lưỡng
Quảng Tôn sĩ Nghị dẫn đại quân nhà
Thanh, chia làm ba đạo tiến sang.
Để hợp nhất lòng dân, Nguyễn Huệ tức khắc làm
lễ cáo trời đất lên ngôi hoàng đế niên hiệu Quang Trung (22.12.1788 tức 25.11
Mậu Thân tại núi Bân, Phú Xuân) và ngay trong ngày thống lĩnh đại binh thủy bộ
lên đường.
Nguyễn Huệ ra Bắc lần thứ ba ngày 22.12.1788
(vây Hà Hồi, đánh Ngọc Hồi chiếm Yên Quyết và
Khương Thượng…khiến Tôn sĩ Nghị lên ngựa bỏ chạy không kịp thắng yên cương) dẹp
tan 20 vạn quân Thanh, tiến vào Thăng Long ngày 5 tháng giêng Kỷ Dậu
((30.1.1789) ở tuổi 36.
Nguyễn Ánh bấy giờ đã 27 tuổi vẫn miệt mài
củng cố binh bị với sự hổ trợ của Pháp (9) đợi cơ hội phục thù.
Tháng 2 năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung về Phú
Xuân sau khi sai sứ sang xin hoà hiếu với nhà Thanh, cấp lương thực và phóng
thích tù binh để tránh hiểm họa bị phục thù.
Tháng 6 năm 1790 cử Trần quang Diệu dẹp loạn
Lê Duy Chỉ vốn liên kết với thổ dân Vạn Tượng, Xiêm…toan chiếm Nghệ An. Năm
1791 khuất phục vua Ai Lao buộc phải triều cống và vua Miến Điện phải thông
hiếu.
Mùa xuân Nhâm Tý (1792) được tin Nguyễn Ánh
sắp đánh Quy Nhơn, Nguyễn Huệ liền chuẩn bị binh mã chinh Nam nhưng tháng 7
Nhâm Tý (15.9.1792) Nguyễn Huệ bị bệnh và mất ở tuổi 40.
Nguyễn Quang Toản nối ngôi tức Cảnh Thịnh mới
13 tuổi, việc triều chính vào tay cậu ruột là thái sư Bùi đắc Tuyên. Tuyên lợi
dụng củng cố quyền lực, tạo băng đảng gây chia rẽ và hãm hại nhiều trung thần.
Năm 1793 quân Nguyễn Ánh chiếm Phú Yên và
đánh Quy Nhơn, Nhạc cầu cứu Phú Xuân vào. Nhạc mở cửa thành đón, tướng của Cảnh
Thịnh bất ngờ ra lệnh giải giáp quân đội của Nhạc, chiếm giữ các kho tàng khiến
Nhạc tức uất thổ huyết chết (con của Nhạc là Nguyễn Bảo cũng bị giáng cho ăn
lộc một huyện).
Tây Sơn vì thế mỗi ngày mỗi suy yếu, trong
lúc Nguyễn Ánh liên tục “thua trận này bày trận khác” chủ động tập kích. Mùa
thu (1793) Nguyễn Ánh rút vào Diên Khánh đào hào đắp lũy xây tổng hành dinh,
cất trại lập xưởng đóng thuyền chiến gần cửa biển Nha Trang rồi giao Nguyễn văn
Thành trấn giữ.
Năm 1794 quân Tây Sơn vào vây, Nguyễn Ánh đem
đại binh giải cứu khiến Trần quang Diệu tạm rút. Năm sau Diệu quay lại, Nguyễn
Ánh lại từ Gia Định ra. Thế trận hai bên cứ vậy giằng co mãi cho đến khi Phú
Xuân có biến (Bùi đắc Tuyên bị các tướng Tây Sơn giết) Trần quang Diệu được
triệu về.
Năm 1797, Nguyễn Ánh toan tái chiếm Quy Nhơn
song lượng sức không được bèn dong buồm thẳng ra Quảng Nam, cuối cùng cũng phải
quây về Gia Định vì không đủ lương thực.
Năm 1799, Nguyễn Ánh đánh Quy Nhơn đổi tên
thành Bình Định giao Võ Tánh và Ngô Tùng Châu giữ. Năm sau quân Tây Sơn vào,
thành Bình Định thất thủ và Võ Tánh tự đốt mình.
Thay vì giải vây Bình Định, Nguyễn Ánh quyết
định mang quân ra tấn công Phú Xuân (1801) làm chủ Thuận Hóa, các nơi khác do
đấy cũng dần lọt vào tay Nguyễn Ánh. Cảnh Thịnh bỏ chạy, Nguyễn Ánh thu ấn
truyền quốc và đào mả Thái tồ Võ hoàng đế
Nguyễn Huệ nghiền xương, bỏ đầu lâu giam ngục.
Tháng 7 Nhâm Tuất (1802) Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế đặt niện hiệu Gia Long,
quốc hiệu là Nam Việt (mãi năm 1804 nhà Thanh mới sai sứ sang ban quốc hiệu
Việt Nam).
Nguyễn Ánh tiếp tục đem quân đánh chiếm Nghệ
An và Thanh Hóa… rồi ra Bắc, vua tôi Tây Sơn lần lượt bị bắt và bị hành hình :
nhà Tây Sơn bị tận diệt.
Nguyễn Ánh tóm thu thiên hạ, bình định đất
nước đến năm 1820 thì mất (56 tuổi).
SỰ ĐỐI ĐẦU BẤT HẠNH ?
Xuất thân là dân ngụ cư áo vải, Nguyễn Huệ
cùng anh dấy nghĩa năm muời tám tuổi. Sinh thời dẫu không qua một trường lớp
đào tạo chính quy nào nhưng ngoài tài dụng binh và thuật dùng người (10) Nguyễn
Huệ đầy lòng nhân chứ không khinh mạn hoặc bạo sát như Lưu Bang hay Hạng Vũ
thời Hán Sở.
Linh hoạt và quyền biến, Nguyễn Huệ thừa
thắng mang quân từ Phú Xuân thẳng ra Bắc (lần thứ nhất, 1786) diệt Trịnh. Nhưng
Nguyễn Huệ vẫn thận trọng không tiếp thu ngay Bắc Hà vì ý thức rõ tình hình
chính trị bấy giờ chưa đủ độ chín muồi (11) dẫu binh lực của Nguyễn Huệ bấy giờ
thừa sức cho phép Nguyễn Huệ hiện thực hóa giấc mộng đế vương. Ngay việc Nguyễn Huệ bất ngờ thả nổi Chỉnh
cũng là một cách vừa thử thách “lòng trung” của y, vừa để thăm dò dư luận quần
chúng cũng như phản ứng của các thế lực sở tại đối với tay phản thần nhà Trịnh
này.
Tiếc thay, tuổi trẻ của anh em Nguyễn Huệ lẫn
tập đoàn dưới trướng hầu như thiếu sự đầu tư và tiếp cận với những nguyên tắc
kỹ trị cùng truyền thống an dân. Chỉ riêng sự thiếu lòng tin vào em mình của
Nhạc (12) đã gián tiếp đẩy cuộc dấy nghĩa của họ vào tình huống bế tắc rồi suy
vong chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau ngày Nguyễn Huệ mất.
Còn đáng tiếc và sinh bất phùng thời chăng
cùng với Nguyễn Huệ, xuất hiện một Nguyễn Ánh không kém trí dũng vốn được phò
trợ bởi môt lực lượng văn võ hùng hậu, xuất thân từ dòng tộc quan lại sĩ phu
thâm niên nhà chúa ?
Chuyện kể, nêu bật tính
cách kỳ phùng của hai con người siêu hạng:
Năm 1783 trong một trận thủy chiến tại Gia
Định, Nguyễn hoàng Đức bị Tây sơn bắt. Nguyễn Huệ thu dùng nhưng tối ngủ Đức
lại nằm mê mắng chưởi quân Tây sơn. Thuộc hạ muốn giết, vậy nhưng Nguyễn Huệ
cười không bắt tội còn hậu đãi cho theo đánh Bắc thành. Sau Nguyễn hoàng Đức
trốn về lại với Nguyễn Aùnh vẫn được Nguyễn Ánh tín cẩn phong làm Tổng trấn Bắc
thành (1809) chứng tỏ Nguyễn Aùnh chẳng phải tay vừa!
Nguyễn Ánh ngỡ may mắn sinh ra là con cháu nhà chúa, nhưng vừa chào đời
gia đình đã chịu sự hãm hại bởi bọn quyền thần. Không là kẻ chính thức được nối dõi, Nguyễn Ánh vẫn là mối hiểm
nguy tiềm ẩn “đối tượng chính trị” nhiều hứa hẹn sẽ là đích ngắm, cần phải loại
trừ nếu Trương Phúc Loan còn sống.
Ấy thế, cậu bé qúy tộc và cô độc ấy vẫn từng
ngày lớn lên giữa bao mối đe dọa như một điều kỳ diệu và khó tin.
Thử hình dung tuổi niên thiếu của Nguyễn Aùnh
theo chân chúa lưu lạc. Chúa bị giết, một thân một mình giữa rừng quan tướng
vàng thau khó lường (tướng nhà chúa, tướng cừu thù trong gia tộc, tướng sơn lâm
mãi võ chiêu mộ bao phen trên đường bại vong, tướng địch quy hàng…). Phải là
người trí lực song toàn, Nguyễn Ánh mới chế ngự và duy trì được một lực lượng
binh tướng “vạn lý trường chinh” sau nhiều phen tan tác đến thế !
Nguyễn Ánh là ai theo cách giải thích của người xưa, nếu không là kẻ có
chân mệnh ?
QUANG TRUNG &
GIA LONG
SỰ
AN BÀI MAY MẮN CỦA
LỊCH SỬ ?
KHÔNG CÓ NGUYỄN HUỆ, DỄ GÌ NGUYỄN ÁNH SẼ LÀ
VƯƠNG ?
Thuở đầu đời, Nguyễn Huệ lẫn Nguyễn Ánh hầu
như không có dấu hiệu tự thân mưu cầu và chủ động (13) tóm thâu thiên hạ.
Chính sự quay cuồng của những sự kiện mang
tính “thời thế tạo anh hùng” đã đẩy đưa cả hai vào vai trò “anh hùng tạo thời
thế” để rồi trở thành đối thủ của nhau. Từng trang sử máu lửa vào thời kỳ ấy vô
hình chung chứng nghiệm, phải chăng để giúp Nguyễn Ánh hội đủ bản lĩnh trị vì
bá tánh, thời thế đã sinh ra non một thập niên trước một Nguyễn Huệ anh hùng
làm đối trọng, huấn nhục để tôi luyện Nguyễn Ánh ?
Nguyễn Huệ chết trẻ song đã kịp thời dẹp thù
trong giặc ngoài, thống nhất bờ cõi tạo thế thuận lợi để Nguyễn Ánh nối tiếp sự
nghiệp trị quốc an dân… điều mà anh em và con cháu Nguyễn Huệ chừng như khó
hoàn tất do sự bất khả trong khâu “tu thân, tề gia” (14)?
Thật vậy, không có phong trào nổi dậy Tây Sơn
mà Nguyễn Huệ đã vươn lên vị trí lãnh đạo chủ chốt, tính mạng Nguyễn Ánh chẳng
khác nào chuông treo chỉ mành trước một Trương Phúc Loan đầy tham vọng và bạo
tàn. Ngoài ra sự xuất hiện của Nguyễn
Huệ trong cuộc thư hùng Nam Bắc, vô tình đẩy Nguyễn Ánh chệch ra khỏi tầm ngắm
của nhà Trịnh, phần nào giúp “kẻ thừa tự cuối cùng” (15) sau này của dòng họ
chúa Nguyễn hội đủ từng khoảng thời gian để trưởng thành, khắc phục nghịch cảnh
và tích lũy kinh nghiệm tác chiến.
Và nếu không có Nguyễn Huệ thì dẫu chỉ giữ hư
vị, nhà Lê (trung hưng) vẫn tiếp tục tồn tại với ưu thế chính trị nghiêng về
phủ Liêu (phủ chúa Trịnh). Liệu Nguyễn Ánh có được cơ hội để vẫy vùng ?
Nguyễn Huệ không trực tiếp diệt nhà Lê (trung
hưng) nhưng bằng việc cầu viện nhà Thanh trong lúc Nguyễn Huệ (rể Hiển Tông)
chưa thực sự là mối đe dọa, Chiêu Thống đã tự hủy danh nghĩa và gián tiếp khai
tử vị thế chính thống vốn sẵn của mình (16). Nguyễn Ánh nhờ vậy mới mạnh dạn
xưng vương hay xưng đế sau này, thu phục nhân tâm mọi miền nhất là giới sĩ phu đất Bắc ít nhiều vẫn còn hoài niệm quá
khứ (17)…
Nếu thiếu vắng Nguyễn Huệ sau ngày Chiêu
Thống cầu viện, lãnh thổ nước Nam ắt khó được bảo toàn. Nguyễn Ánh (thay vì Huệ) sẽ phải đối đầu
với quân Thanh cùng nhiều thế lực khác, kể cả bạo loạn có thể dấy lên khắp nơi
dưới danh nghĩa phục Lê kiểu Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm.
Nhưng nếu Nguyễn Huệ tiếp tục tại thế sau năm
1792, Nguyễn Ánh hẳn khó là đối thủ ngang tầm và cuộc chiến hẳn sẽ triền miên
với sự trợ giúp của lân bang (Xiêm, Pháp) về phía Nguyễn Aùnh, lẫn sự dòm ngó
của nhà Thanh trong vị thế một “ngư ông đắc lợi” mỗi khi sự phân hóa quyền lực
mỗi ngày mỗi trầm trọng hơn giữa anh em nhà Tây Sơn.
Nguyễn Huệ mất sớm để lại cho muôn dân sự
tiếc nuối về dự tính mở mang bờ cõi ngược lên phía Bắc, qua việc cầu hôn công
chúa nhà Thanh : liệu sự nuối tiếc ấy có đầy hoang tưởng ?
Với dân số và quân số cùng diện tích rất ư
khiêm tốn sánh với Trung Quốc, do đâu Nguyễn Huệ và nhân dân ta đánh bại 20 vạn
quân Thanh chỉ trong một thời gian ngắn, nếu không vì tinh thần dân tộc bị tổn
thương và kẻ ngoại xâm thiếu chính nghĩa?
Giả dụ Nguyễn Huệ còn sống và thực hiện hoài
bão, nói cách khác hoán đổi vị trí cho nhau… lẽ nào quân dân ta có chính nghĩa
? Nhân dân Trung Quốc liệu sẽ không mặc cảm bị xúc phạm bởi mất trắng Lưỡng Quảng
(18) về tay người áo vải phương Nam đã hơn một lần làm bẽ mặt triều đình của họ
?
Sẽ khó lường xiết bao nếu tái diễn một cuộc
so gươm ngay trên xứ người giữa vị anh hùng chưa một lần nếm mùi chiến bại
“Quang Trung” và hoàng đế vũ dũng Càn Long ?
Dân tộc ta dễ gì tránh khỏi từng trận đòn thù
hẳn còn khủng khiếp bội phần so với bao cuộc tràn quân xâm lược của họ trước
đây ?
Aáy là chưa xét đến vị thế của Ngọc Hân sẽ
thế nào nếu vua Thanh chấp thuận lời cầu hôn của Nguyễn Huệ ? Dân ta sẽ chịu
khuất phục để cho nàng công chúa tài hoa đất Bắc độ nào, vị Bắc Cung hoàng hậu
đáng yêu bấy giờ bị phế truất ?
Ngược lại, triều đình “Đại Thanh” liệu có
chịu được sĩ nhục khi công chúa của họ…
kém thế ?
THIẾU SỰ KẾ THỪA CỦA NGUYỄN ÁNH : ĐẠI NGHIỆP NHẤT
THỐNG GIANG SAN CỦA NGUYỄN HUỆ DỄ GÌ
BỀN VỮNG ?
Bằng những chiến thắng thần tốc “tạo nền” cho
một chính sách ngoại giao mềm dẻo thời hậu chiến, thiên tài quân sự Nguyễn Huệ
đã khéo khuất phục kẻ thù từ binh tướng đến vua quan.
Triều đình nhà Thanh chẳng đã trân trọng dành
một sự đón tiếp “có một không hai” vị anh hùng áo vải cờ đào trời Nam (19) dẫu
“thừa hiểu” đấy là vua Quang Trung… giả (1790) ?
Nhưng về đối nội, chưa tròn ba
thập niên do đâu vương triều Tây Sơn nhanh chóng sụp đổ ?
Trước hết do Nguyễn Nhạc quá đa nghi, tính
cách “nổi loạn” buổi đầu của Nhạc chỉ trên tầm một viên “biện lại” ngang tàng
hay “trại chủ Lương Sơn” hào hiệp, chứ chưa thể đạt đến tầm vóc của một bậc
khai sáng.
Nhạc cũng không lường được tay phản thần đàng
Ngoài là Chỉnh vốn cơ trí nên đã mặc Chỉnh sát cánh cùng Nguyễn Huệ trong lần
ra Phú Xuân, mở màn cho một cuộc chinh Bắc thần kỳ của em mình sau đó.
Tham vọng của Nhạc dường như chỉ gói trọn
trong một phần lãnh thổ, một không gian quyền lực thuộc đàng Trong mà thôi. Lữ
thì tính khí hiền hòa, không tha thiết lắm trong việc mưu bá đồ vương và lại
chết sớm (1787).
Duy chỉ mình Nguyễn Huệ thừa chí lớn và dám
mạo hiểm dấn thân. Tuy nhiên, sai lầm nghiêm trọng dẫn đến sự sụp đổ nhanh
chóng của nhà Tây Sơn cũng chưa hẳn mới bắt nguồn từ khi Nguyễn Huệ mất đi.
Chính sự tự thỏa mãn quá sớm với những gì vừa
chiếm lĩnh được vốn đã vượt sức mình, Nhạc đã xé nhỏ từng phần lãnh thổ chưa
thực sự ổn định để cát cứ. Sự vội vã phi chiến lược này đã gián tiếp làm phân
rã nội bộ từ gia tộc đến binh tướng và nhân dân từng vùng, từng miền theo cách
“chúa ai nấy thờ” của anh em Tây Sơn.
Tóm lại từ một hành động phản kháng có tính
địa phương, biện Nhạc dấy lên một phong trào cứu khổ phò nguy hạn hẹp chỉ giữa
hai tầng lớp : quan lại thống trị nhà chúa (Nguyễn) và quần chúng bị bóc lột.
Nguyễn Huệ sau đó mới là người trực tiếp biến
sự tranh chấp quyền lợi giai cấp thành một lực lượng có chính nghĩa bao trùm
“dẹp giặc trong, chống thù ngoài” kết dính toàn dân thành một khối, cứu nguy
đất nước.
Sau trận đại thắng quân Xiêm, Nguyễn Huệ đã
chớp thời cơ và triệt để phát huy sức mạnh, công khai tuyên chiến với toàn bộ
hệ thống phong kiến đàng Trong lẫn đàng Ngoài: ranh giới sông Gianh mặc nhiên
bị xóa bỏ.
Để rồi với cuộc tử chiến làm rạng danh non sông,
tiêu diệt gọn 20 vạn quân Thanh năm 1789, Nguyễn Huệ nghiễm nhiên trở thành vị
đệ nhất anh hùng của chính dân tộc mình.
Đối thủ thực sự của Nguyễn Huệ trên chiến
trường chưa hẳn là… Nguyễn Ánh. Chỉ hiềm dưới trướng Nguyễn Huệ, quan quân ít
kẻ xuất thân là khoa bảng cũng như hội đủ năng lực kinh bang tế thế. Do bị thôi
thúc bởi sự căm thù ngoại xâm cùng lũ tham quan triều Nguyễn nên đã đứng lên.
Nghĩa khí và can trường có thừa, song chưa kịp kinh qua một quá trình tổ chức
và điều kiện huấn luyện đủ để trở thành một lực lượng chiến đấu chuyên nghiệp.
Quân Tây Sơn (gốc Kinh lẫn Thượng…) có thể sử
dụng nhanh trong mỗi chiến dịch chứ khó duy trì bền.
Bên trong triều đình Tây Sơn lại thiếu vắng
những “quan văn chính thống” nổi trội, ngoài một Nguyễn Thiếp quân sư. Riêng
Ngô thời Nhiệm vốn là cựu binh của xứ Ngoài, được ủy thác có giới hạn về sứ
mệnh tham mưu và đối ngoại chứ chưa thực sự được “toàn quyền” gách vác trọng
trách của triều đình, giữa lúc quanh Ngô thời Nhiệm là một rừng hảo hán phương
Nam.
Cánh võ biền gồm vô số những tay hào kiệt
nặng mang tinh thần nghĩa hiệp hơn là ý thức sâu sắc về quan điểm chính trị về
lâu về dài. Thái độ khoan dung của Trần Quang Diệu đối với tướng sĩ của Võ Tánh (nhà Nguyễn) là một điển hình:
Mùa
hạ 1800, quân Tây Sơn hãm thành Bình Định, tướng giữ thành là Võ Tánh liệu bề
không chống nổi bèn lên đài cao tự châm lửa đốt. Trước khi chết, Tánh gởi thư
cho tướng Tây Sơn “…trong thành lương hết không thể giữ được nữa, tướng quân
thua trận đáng chết là ta nhưng quân lính vô tội, chớ nên giết hại…”… Diệu vào
thành trông thấy thương chảy nước mắt lấy lễ thu chôn, tướng sĩ của Tánh không bị Diệu giết một ai và được
tự do ra về…
Lẽ ra Nguyễn Ánh phải biết, quan quân của
Nguyễn Ánh phải nhớ mà nương tay sau này khi đánh bại Tây Sơn .
Xưa Ngũ Viên vì thù cha mà quất roi vào thây
Sở Bình Vương hay Dự Nhượng (Tần) trả hận cho chủ cũ không thành mà cố xin Tương Tử chiếc áo ông ta đang mặc để đâm
cho thỏa mãn ước nguyện... Đấy là cách hành xử của kẻ bầy tôi kém thế vốn đã bị
đời chê trách.
Nay qua sự xúc phạm hài cốt và hành hình dã
man thân nhân cùng tướng tá của Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh càng để lộ nỗi ức chế
triền miên về sự bất lực của mình trước bóng dáng lớn lao của một đối thủ trong
quá trình đối mặt.
Nguyễn Ánh tự đánh mất ít nhiều tác phong của
một bậc đế vương, lội ngược tinh thần đạo lý “nghĩa tử nghĩa tận” của người Á
đông. Chẳng những tự gây thương tổn mình, Nguyễn Ánh còn làm thương tổn bao thế
hệ con tim vốn luôn ngưỡng vọng vị anh hùng áo vải đất Tây Sơn.
Nguyễn Ánh còn gián tiếp tự chọn cho mình vị
thế đối nghịch với toàn dân qua việc cầu viện ngọai bang (Xiêm, Pháp).
Tuy nhiên muốn hay không vẫn phải thừa nhận
Nguyễn Aùnh cũng là một bậc anh tài. Ngoài sự kiên gan và tinh thần dám chịu
mọi khổ nhục, Nguyễn Ánh còn khéo tận dụng và triển khai từng thành quả của
chính đối thủ (Nguyễn Huệ) để tóm thu thiên hạ về tay mình cùng ổn định đất
nước.
Xét
về một khía cạnh khác, sao có thể trách được trong một tình thế thắng bại chưa
thực sự nghiêng về ai. Ngoài tâm trạng bất
an, Nguyễn Ánh còn bị chi phối bởi nhiều áp lực vô hình từ tập đoàn quan tướng
phong kiến quanh mình. Biện pháp bất nhẫn Nguyễn Ánh áp dụng với kẻ thù ắt nhằm
vuốt ve và “mua đứt” sự dốc lòng của thuộc hạ vốn phải ăn sương nằm đất bao năm
theo khuông phò? Ai cấm họ không ngầm đòi hỏi Nguyễn Ánh, bằng mọi giá phải bảo
toàn cùng xác lập vai trò khanh tướng vốn đã cận kề đối với họ? Ai trong số họ
không nuôi giấc mộng một ngày trở về cố hương, dọn mình đón đợi ơn mưa móc của
Nguyễn Ánh ?
Nhưng dư âm của những trận chiến vũ bão ngày
trước của quân tướng Tây Sơn luôn ám ảnh, Nguyễn Ánh dễ gì thuyết phục và trấn
an được họ nếu nhẹ tay với bầy tôi trung dũng còn đó của Nguyễn Huệ ?
Vả lại sự thắng thế của Nguyễn Aùnh phần nào còn
dựa vào âm hưởng của quá trình mở cõi bởi các tiên chúa nhà Nguyễn, khát vọng
thanh bình muôn thuở của nhân dân sau hằng trăm năm binh biến… Trong cảnh huống
ấy, không chỉ Nguyễn Huệ hay Nguyễn Ánh mà bất cứ nhân vật nào dám nhận lãnh
vai trò “thế thiên hành đạo” tất nhiên nhận được sự cổ vũ của nhân dân.
Đâu phải chợt dưng thiên hạ nghiêng về Nguyễn
Ánh nếu Nguyễn Huệ không sớm bị tước đoạt tuổi trời ? Thiếu bóng minh chủ
(Nguyễn Huệ) quân Tây Sơn như rắn mất đầu đánh mất thế chủ động, bao phen sau này
bị dồn vào tình thế gần như trở nên cường đạo (20) và mất dần chính nghĩa.
Nguyễn Huệ, vị chiến tướng lừng lững nằm
xuống giữa lúc áo bào còn “vắt ngang lưng ngựa” và thắng lợi cuối cùng thuộc về
Nguyễn Ánh sau khi không có Nguyễn Huệ, tất cả cũng đã … cát bụi trở về !
Vẫn biết không thể lấy sự thắng bại để luận
anh hùng, nhưng nếu tự thân thiếu ý chí hay không thừa hưởng cái chất anh hùng
cha truyền con nối, Nguyễn Ánh làm sao hiện thực hóa được khát vọng “trị quốc,
bình thiên hạ” của mình ?
Thời thế xưa nay hiếm dung cùng lúc lắm hào
kiệt “trời sinh Du, sao còn sinh Lượng ?” (21)Riêng với Nguyễn Huệ và Nguyễn
Ánh thì chưa hẳn. Mỗi người mỗi danh phận, mỗi khí phách và trọn vẹn cuộc đời
đã hoàn thành “một nửa sứ mạng lịch sử vinh danh lẫn đau đớn” của mình, sau
những gì nhận được hoặc mất đi tưởng như nghịch lý.
Bao nhiêu biến cố xoay vần ý chừng cũng thuận
theo vận nước, một sự định phận tại… thiên thư. Vâng, biết đâu sự trùng phùng
giữa “Nguyễn Huệ và Nguyễn Ánh” đấy chẳng là điều may mắn thay vì bất hạnh của
dân tộc : đất nước đã sinh Huệ, lẽ nào thiếu Ánh !
Đâu đó bên kia đời, hẳn cả hai – Thái tổ Võ
hoàng đế Nguyễn Huệ và Thế tổ Cao hoàng đế Nguyễn Ánh khó lòng khước từ một sự
tri ơn dẫu toàn tâm hay chừng mực, dẫu công khai hay thầm lặng của hậu thế ?
(Phuongvy.com chân thành cám ơn bạn Nguyễn Văn
Sa, cựu học sinh Quốc học 61-64, đã gửi bài biên khảo nói trên.)
Chú thích:
(1)
việc thí vua Lê Long Đỉnh năm (1009) và Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng
nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (1225)
(2)
thay vì tôn xưng theo đế hiệu như trên,chúng ta vẫn quen gọi hai vì vua
này theo niên hiệu là Quang Trung và Gia Long.
(3) ám
chỉ việc cầu viện ngoại bang (Xiêm,Pháp) nhằm khôi phục ngôi chúa của Ánh.
(4) Sau khi
lên ngôi, Aùnh ban hành luật pháp nghiêm minh; không sử dụng các quan tướng
Pháp đã hổ trợ Aùnh trước đây vào những vai trò quan trọng (chỉ ban thưởng chức
tước,phẩm hàm tượng trưng,hậu đãi về vật chất, đặt tên Việt hay gả vợ cho mà
thôi). Trước sự xâm nhập của một tôn giáo mới (TCG) vốn là hệ lụy của việc cầu
viện ngoại bang (Pháp) Aùnh phản ứng tự vệ bằng cách sửa sai như : quảng bá mạnh mẽ hơn tư tưởng Phật giáo và
Nho giáo trong quần chúng,xây dựng nhiều đền chùa khắp nơi trên toàn quốc…
(5) Các
sử gia triều Nguyễn phúc (hay còn gọi là Nguyễn Gia Miên) cho rằng Nguyễn Huệ
chiếm Phú Xuân là “mạo phạm đất vua và lăng tẩm liệt thánh” của nhà Nguyễn nên
đã mơ thấy một lão trượng dùng gậy đánh mắng nên sinh ra sợ hãi muốn dời đô ra
Nghệ An song kết cuộc vẫn phải bất đắ kỳ tử. (Đại Nam Chính biên liệt truyện).
Một “nghi vấn” khác càng không thể chấp nhận cho rằng Ngọc Hân công chúa đã đầu
độc chồng (Nguyễn Huệ). Thử hỏi, nhà Lê bấy giờ còn có ai (?) và Nguyễn Huệ mất
thì Bắc Cung hoàng hậu sẽ nương tựa vào ai, được gì và mất gì (?) nhất là bà
đang có con còn rất nhỏ.
(6) mãi
đến đời chúa Trịnh Tùng, nhà Mạc bị đánh đuổi khỏi Thăng Long, chạy lên hùng cứ
vùng Cao Bằng cho đến 1677 mới thực sự bị tuyệt diệt.
(7) cha
của Aùnh là Nguyễn Phúc Luân (con thứ nhì của Nguyễn Phúc Khoát) lẽ ra được nối
ngôi theo di chiếu nhưng do Trương Phúc Loan muốn chuyên quyền đã tìm cách sát
hại năm 1765 để lập em Luân là Nguyễn Phúc Thuần còn nhỏ (thứ 16) nhằm tiện bề
thao túng.
(8) năm
1785,vua Xiêm muốn giúp Ngyễn Ánh đánh lấy lại Gia Định lần thứ hai. Nguyễn văn
Thành tâu “lính Xiêm tàn ngược không nên nhờ, nếu nhờ sẽ có sự lo về sau” Ánh
bèn thôi.
(9) Ánh
cầu viện Pháp qua sự trung gian của giám mục Bá đa Lộc (gởi hoàng tử Cảnh làm
con tin) là một sai lầm khó bào chữa bởi đã gây hệ lụy cho nhiều đời sau.
(10) việc
Huệ khéo dùng người: sử dụng nhân sĩ đất Bắc (Ngô thì Nhậm) ; bầy tôi của chúa
Trịnh (Nguyễn Hữu Chỉnh) ; tướng của Aùnh bị bắt (Nguyễn Hoàng Đức) … tận dụng
thông tin từ Chỉnh để tiến quân ra Bắc (lần 1) ; nghe theo kế sách của quân sư
Nguyễn Thiếp, khen ngợi chiến thuật lui quân của Ngô thì Nhiệm khi quân Thanh
vừa tiến sang...
(11) lòng
người oán Trịnh nhưng vẫn hướng về nhà Lê và tưởng nhớ Nguyễn Kim là người có
công phò lập nhà Lê (trung hưng).
(12) Nhạc
ra Bắc, Huệ hiểu ý, đón dâng tờ trình và nộp binh phù cho anh.
(13) cả
hai đều ở vị thế “nhân vật… hạng hai”: Huệ đằng sau anh mình tức Nhạc và Aùnh
thực sự không phải là kẻ chính thức được nối nghiệp Chúa (của Nguyễn Phúc
Thuần).
(14) Nội
bộ Tây Sơn về sau càng chia rẻ. Năm 1793, Cảnh Thịnh (Quang Toản con Huệ) vào
cứu viện Quy Nhơn lại tịch thu ấn tín của vua Thái Đức (Nhạc) tướng Ngô văn Sở
can không được, Nhạc uất ức thổ huyết chết. Cảnh Thịnh còn phế thái tử Nguyễn
Bảo (con của Nhạc…)
(15) Nguyễn
Phúc Thuần tử vong và Đông cung Nguyễn Phúc Dương cũng bị Tây Sơn bắt.
(16) Chiêu
Thống theo đám tàn quân nhà Thanh chạy sang lưu vong ở Trung Quốc, chết ở đấy
vào năm 28 tuổi (1792)
(17) khuynh
hướng sùng bái chế độ quân chủ phong kiến và nhà Lê trung hưng do Nguyễn Kim
phụng lập nên tâm lý ít nhiều hướng dần về Nguyễn.
(18) thực
ra chỉ là phần lãnh thổ 6 châu thuộc Hưng Hóa và 3 động thuộc Tuyên Quang của
nước ta trước kia bị bọn thổ tỵ nhà Thanh xâm chiếm sáp nhập vào hai tỉnh
(Quảng Đông, Quảng Tây) của Trung Quốc mà thôi. Vả lại, Phúc An Khang (thay Tôn
sĩ Nghị làm Tổng đốc Lưỡng Quảng) đã thay mặt triều đình nhà Thanh lấy cớ cương
giới đã định mà khước từ rồi.
(19) đóng
giả vua Quang Trung là Phạm văn Trị, anh họ bà vợ đầu của Huệ (Nguyễn Huệ có 3
vợ : bà Phạm thị mất sớm (mẹ Quang Thùy, Quang Bàn) bà Bùi thị (Chánh cung
hoàng hậu, mẹ Quang Toản, Quang Thiệu, Quang Khanh) và Lê Ngọc Hân công chúa
(Bắc cung hoàng hậu, mới có con nhỏ)
(20) con
của Nhạc và con của Huệ đều là kẻ bất tài, chia rẽ và hãm hại lẫn nhau… lắm lần
thua trận, quân của Toản còn cướp bóc của dân (Phú Xuân).
(21) lời Chu Du than (thời Tam
Quốc)