Chuyện Ngày Xưa … Nhớ Nhớ … Quên
Quên
(Viết
tặng Thái Kim Lan và bạn bè thuở học tṛò)
Thầy Bói Hậu Bổ và những chuyện tào lao về bói toán trong đời
tôi .
Xóm Hậu Bổ tồn tại gần 15 năm rồi bị chính
quyền giải toả để xây dựng thành rạp xinê Hưng Đạo đã 40 năm nay. Công trì́nh kiến trúc bên trong khu Hậu Bổ
ngày ấy hoang tàn, tan nát, chỉ có nền gạch
trơ vơ giữa mấy cây đa cổ thụ,
cành rễ sum sê, đầy vẻ ma quái ghê rợn,
bao bọc bởi một dãy tường thành cũng nhiều đoạn đổ nát vì́ bom đạn.
Những
người đến trước chiếm bờ thành hướng ra vườn hoa, phá tường rào để làm chỗ bán
buôn hay hành nghề mà tôi cọ̀n nhớ như anh Huế Hớt tóc, anh Thức may áo quần
Tây, ôn Thẻo làm dép lốp Bì́nh Trị Thiên v.v. ..
Người
đến sau th́ì che lều, dựng vách nơi nào họ chọn lựa tùy thích, nhưng luôn tránh xa mấy cây đa,cây bồ đề um tùm, một
phần sợ rắn rít và phần khác là sợ ma hay
họ cho mấy nơi đó là chỗ ở của người khuất mặt và như vậy là
trời đã dành sẵn chỗ mấy gốc cây cổ thụ cho mấy ông thầy bói mà sau này
chết tên là Thầy Bói Hậu Bổ.
Bọn con
nít Thượng Tứ chúng tôi cũng ít khi ra đến xóm Hậu Bổ vì́ sợ…ma, ngày
trước khu ni chưa có người ở, tối tăm
và lạnh lùng lắm, trước mặt là vườn hoa vắng vẻ, hàng cây bút bút dày đặc, âm u
và bên trong là mấy cây đa rễ rủ đong đưa theo gió như những cánh tay ma quái
vật vờ…. dọa dẫm đuổi xua mấy người yếu bóng vía.
Nhưng
rồi dân cư ngày một đông và khi bọn
nhóc chúng tôi hết sợ bắt đầu chạy ra Xóm Hậu Bổ chơi thì́ đã thấy dưới hai gốc
đa hai ông thầy bói ngồi lù lù ra đó
rồi. Hai ông ni có nhiều điểm giống
nhau, ông mô cũng đội khăn đóng, áo dài đen, quần vải trắng và cả hai không
biết có mù mắt không nhưng đều mang mỗi người một đôi kính đen thùi lùi. Có cái khác nhau là một ông thì́ có cái dù
màu đen cầm tay, che nắng mưa mà thỉnh thoảng cũng dùng để xua chó, đuổi mèo
lảng vảng, c̣òn ông tê thì́ đội cái nón quai găng giây đỏ, rất giống mấy bà lên
đồng trên Điện Ḥòn Chén.
Ông
ngồi bên cây đa trước mặt cũng đầy đủ
bộ sậu như rứa nhưng trên cái tráp đen lại có thêm bộ bài Tây Cơ Rô Chuồn Bích nữa. Khách hàng là mấy bà già cũng dưới quê lên
hay mấy mệ, mấy O dưới chợ Đông Ba lên coi ngày lành tháng tốt để mở hàng, mở
tiệm, hỏi chuyện cúng sao giải hạn hoặc hỏi tin thằng con trai đi lính mấy lâu
ni bặt tin, xin hỏi Thánh cho biết có bì́nh an không ?.v.v…
Có cầu
thì́ phải cung ,dân càng đông , th́ thầy bói cũng đông theo mà trong Hậu Bổ chỉ
có hai ba cây đa thôi, nên người ta lại
thấy lác đác vài ba ông thầy bói mới,
ra ngồi dưới mấy gốc cây đa, cây
ngô đồng đầy gai bên vườn hoa Nguyễn Ḥoàng.
Rồi về sau vì dân trong xóm Hậu Bổ đông qúa, ồn ào, ô uế làm mất vẻ linh
thiêng nên mấy ông thầy trong Hậu Bổ
cũng dời ra vườn hoa Nguyễn Hoàng tuy
vậy dân Huế vẫn cứ quen gọi là Thầy Bói Hậu Bổ.
Thầy
bói Hậu Bổ theo tôi là những người rất đáng thương. Một số rất ít là mù bẩm
sinh và cố học làm nghề thầy bói để mưu sinh suốt cuộc đời tàn tật, cọ̀n đại đa
số là những thầy bói bất đắc dĩ, có hấp thụ một ít nho học, đọc được chữ Hán, gặp
thời buổi đất nước loạn ly, gia đ́nh nghèo đói không biết làm chi sinh sống nên
đành tận dụng sở học của nho gia: nho, y, lý số, làm được cái chi th́ì làm để
tồn tại trong cõi đời nghiệt ngă này.
Có một
đôi lần theo chân bạn bè thời xà lỏn nghịch đùa, nghe lời xúi dại của ông An
lùn hớt tóc nơi cây vông vườn hoa Nguyễn Hoàng, bọn tôi ḷéṇ tới bên một ông
thầy bói mù bưng cái tráp dấu sau lưng ông, khi có khách ông mọ̀ t́m hoài cái
tráp không ra mới nói: “ Tau lạy tụi bay cho tau kiếm cơm, con tau đang đói tụi
bay ơi” thì́ từ đó bọn tôi không cọ̀n thấy vui khi nghịch ngợm như rứa nữa.
Tôi bắt
đầu biết thương mấy ông thầy bói Hậu Bổ khi thấy vào buổi một chiều ba mươi tết
kia, trời Huế âm u, mưa phùn lất phất bay, mưa không ướt đất nhưng cái lạnh
thì́ thấu xương, lạnh từ trong ḷưng lạnh ra…
Mọi người hối hả về nhà lo cúng tất niên đón giao thừa mà dưới hai ba
gốc cây vẫn cọ̀n có hai ba ông thầy bói ngồi co ro chờ người khách cuối năm mà
không biết có người khách đó hay không như mong ước?
Thầy
bói Hậu Bổ là những người nghèo mạt hạng, họ phải đi bộ từ nhà, trên Văn Thánh,
trong Tây Lộc, dưới Điạ Linh lên, ra đến vườn hoa rồi ngồi đồng, há mõm chờ
sung rụng, tối lại lếch thếch mang tráp lội bộ về nhà, chớ hồi đó làm chi có
xích lô hay xe thồ, mà có th́ì tiền mô mà đi?
Ở Huế
thời đó cũng có người hành nghề bói toán nhưng họ có nhà có cửa ấm êm, hoặc mở
tiệm xem chỉ tay, bói bài, cho bùa yêu như cô Thanh Ròn phố Ngã Giữa, như Cô Tố
Liên trên Cầu Đất, hay xem lá trầu không như ông thầy Trầu dưới Ô Hồ.v.v… Cọ̀n
ra ngồi ngoài vườn hoa Nguyễn Ḥoàng th́ì chỉ có Thầy Bói nghèo mạt hạng Hậu Bổ
vì́ không cọ̀n con đường nào khác…
Trong
số thầy bói Hậu Bổ, tôi chỉ c̣òn nhớ có một
thầy bói mù trẻ tuổi tên Bích, sau một thời gian ngồi ngoài vườn hoa
Nguyễn Hoàng, về mở phọ̀ng coi bói tại nhà trên Xă Tắc tên hiệu là Thầy Kim
Châu. Theo bạn Võ văn Dật, cựu Giáo sư
Hàm Nghi và cũng là nhà văn Võ Hương An cho biết thì́ ở Hậu Bổ có 3 ông thầy
bói là 3 thế hệ nối tiếp: ông nội, cha, và con đều làm nghề thầy bói cùng một thời
kỳ. Ba ôn, con, cháu hằng ngày đều cùng
ngồi nh́ìn nhau từ ba gốc cây và tối đến cùng dắt díu nhau về Xă Tắc và thầy Bích chính là thế hệ cuối của ba đời
đồng nghiệp. Cám ơn bạn Dật, bạn đã
khêu gợi lại và vén đám mây mù ký ức cho tôi thấy lại được rõ ràng h́ình ảnh ba
ông thầy bói mù, vai mang ba cái tráp, níu tay nhau đi hàng một, qua nhà mỗi
chiều khi trời tắt nắng, đi về hướng Ngọ Môn. Thì́ ra đó là Gia đ́ình của Thầy
Bói Bích gồm có thầy đi trước dẫn Cha và Ôn Nội theo sau. Ngày xưa có 4 đời trong một dọ̀ng họ cùng
làm quan trong một triều người ta gọi là Tứ Đại Đồng Đường, ngày nay cả ba đời
đều làm thầy bói trong cùng một vườn hoa th́ì gọi là chi đây??? Tam Đại Đồng Hoa Viên hay Sờ Mu Rùa Ba Đời có được không??? Hay là nói chính
trị cho vui một chút là Thầy Bói Gia Đì́nh Trị???
Bốn chữ
Thầy Bói Hậu Bổ đã trở thành một thành ngữ thân quen, khôi hài và hóm hỉnh. Cứ
mỗi lần có chàng thanh niên hay cậu học tṛò mô đẹp trai cách mấy đi nữa mà đeo
vô đôi kính đen cho dễ nhì́n trộm th́ì liền bị mấy o gái Huế chọc quê:
“ Tụi
bây ơi! coi ông thầy bói Hậu Bổ nơi tề !”
Rưá là
chàng đỏ mặt, bỏ chạy một mạch không dám quay đầu nh́ìn lại. Hoặc là cứ
mỗi lần tôi đoán non đoán già điều chi là mạ tôi lại cười:
” Thôi
cái thằng ni ! Đừng làm thầy bói Hậu Bổ nữa !”
Nói
cách khác là mấy thầy bói Hậu Bổ chỉ có đôi kính đen làm cảnh và nói chuyện tào
lao cho vui mà thôi, tuy không cố ý bịp bợm, lừa gạt chi ai nhưng cũng chẳng
trúng trật vô mô cả.
Hơn 50
năm sau, chừ ngồi nghĩ lại ,tôi càng thấy thương mấy ông thầy bói Hậu Bổ hơn,
ngoài những lời nói chung chung, vô thưởng vô phạt, để kiếm cơm ra thì́ những
ông thầy bói không mù cũng phải đeo đôi kính đen cho có vẻ thầy bói, nhưng biết
đâu họ cũng cần có đôi kính đen để không ai đọc được nỗi buồn lo trong mắt họ.
Tôi
thường thầm nhủ, nếu mì́nh biết làm thơ, th́ì bài thơ đầu tiên sẽ không phải là
bài thơ ca ngợi t́ình yêu hay ca tụng người tì́nh mà sẽ là những ḍòng thương
cảm cho số phận hẩm hiu của những ông thầy bói Hậu Bổ, những người nông dân có
chút nho học cuối mùa, thất cơ lỡ vận giữa thời buổi hỗn mang, chiến tranh kinh
hoàng. Ước chi tôi như là nhà thơ Vũ
Đì́nh Liên đã viết ra bài thơ Ông Đồ để tiếc thương cho một thế hệ đã qua.
Nói
chuyện bói toán tôi cũng muốn kể cho các bạn nghe về những chuyện bói toán tào
lao có thật trong hơn 60 năm cuộc đời tôi.
Tôi là
một người không tin bói toán, thánh thần, ma qủi, nhưng lại là người rất ṭò
mò, cái tật tọ̀ mọ̀ của người khao khát biết chân lý, cho nên không tin mà vẫn
thích coi bói, đọc sách tướng số, nghiên cứu tử vi .v.v… Có những điều không
tin mà nó cũng có đúng , có sai nhưng
cuối cùng không có cách chi giải thích
nổi.
Ngay từ
ngày c̣òn học lớp nhì, lớp nhất, tôi được tiếng thông minh và học giỏi nên khi
có ông thầy mạ tôi kêu đến xem chỉ tay cho tôi và mấy anh em thì́ ông thầy cầm
lấy tay tôi và nói cậu ni sau này chắc chắn “xuất dương” sống ở nước ngoài, ba
mạ tôi đồng ý ngay và khen ông thầy rối rít. Trong khi đó ông thầy cũng cầm tay
ông anh tôi, thằng em tôi và không nói chi về chuyện xuất dương như tui cả, năm
mươi năm sau đúng là tui cũng có xuất dương nhưng lại đi sau trong khi mấy đưá
em tôi đã “ vượt biên” qua Mỹ từ 10 năm trước.
Sau Tết
Mậu Thân 1968, thấy tôi cũng đã lớn tuổi mà c̣òn lông bông nên ba mạ tôi
hỏi ưng ai thì́ ba mạ đi hỏi cho, mà
cưới vợ cho rồi. Trước ngày lễ hỏi, bà mẹ vợ tôi bảo tôi lấy tuổi hai đứa mà đi
coi thầy xem có hạp không ?
Tôi dạ
dạ rồi chạy lên Xă Tắc gặp Thầy Kim Châu chính là Thầy Bích ở ngoài Hậu Bổ mười
mấy năm trước. Thầy gieo đồng xu xong
nói là hai caí tuổi ni cũng được đây
nhưng mà khắc khẩu lắm. Chồng
nói thì́ vợ nhảy vô mồm mà vợ nói thì́ chồng nếu không gây gổ, càu nhàu e cũng
quảy đít bỏ đi.
Về nhà
bà gia hỏi thầy nói răng con thì́ tôi trả lời là Thầy Kim Châu nói 2 cái tuổi ni
hạp nhau lắm, thầy nói tam tứ hạp chi lận mà con nhớ không hết. Ai dại chi mà nói khắc khẩu cho lôi thôi rắc
rối. !!! Mà khắc khẩu thiệt, chừ là sau
36 năm chung sống có dâu có rễ rồi cháu chắt đầy đủ mà ông vẫn cứ nói gà bà cứ
nói vịt, không ai chịu nhịn ai, tuy không cọ̀n gây gỗ nữa nhưng khi nghe nói
câu không vừa ý là một người đứng dậy lên phọ̀ng riêng của mì́nh và tôi nghĩ e
đến cuối đời cũng chẳng đổi thay...Rứa th́ thầy bói mù Kim Châu qúa đúng, mà
răng ông lại biết rơ ràng và nói chắc nịch như vậy???
Năm
1970, tôi là một sĩ quan chỉ huy một
đại đội tác chiến của Tiểu Đoàn 3 Trung
Đoàn 45 sư Đoàn 23BB ở Ban mê thuột, được nghỉ phép cùng vợ bồng con gái đầu về
Huế thăm nhà. Lên máy bay Air
Cả nhà
chạy ra đón khi chúng tôi bước xuống xích lô bước chân vô nhà, cô em Hậu của
chúng tôi cầm tay một người đàn ông dáng tầm thước ,mang kính trắng, mặc áo cà sa màu nâu và giới thiệu:
“Anh chị Định em vừa từ Ban Mê Thuột về, và đây là anh Chiêm, Thầy Chiêm
ở Đà Lạt, em mời về cúng cho anh Cát”.
Cát là chồng của Hậu vừa tử nạn ở Sài G̣òn.
Chúng
tôi chưa kịp mở miệng chào Thầy thì́ Thầy chỉ ngay mặt hai vợ chồng tôi rồi
nói: “Nè́ hai vợ chồng anh ni khắc khẩu
qúa, ngồi trên máy bay mà cũng gây nhau”. Tôi ngẩn người và thầm phục ông
Thầy. Tôi tự hỏi sao ông thầy bói mù
Kim Châu ở Huế và ông Thầy Chiêm ở Đàlạt mà cũng nói một lời như nhau? Phải có cái chi thần bí đây chứ?
Tôi có
một người bạn hàng xóm tên là Nguyễn Kỳ Nguyên, con của ông Pierre Hoàng, thợ
may, vì́ có cái lưng gù nên trong xóm thường gọi là bác Hoàng C̣ộm.. Nguyên học
trường Dọ̀ng Pellerin, hơn tôi hai tuổi.
Chúng tôi vẫn thường đá banh bằng giấy báo, bằng mủ cây bút bút, nhưng
có lẽ vì́ bác Hoàng C̣ộm làm ăn thất bại nên phải bán nhà cho bác Ân nhà sách Ái Hoa và đi Đà Nẵng sớm
nên chúng tôi mất liên lạc từ đó, nghĩa là khi chúng tôi độ 10, 12 tuổi. Măi khi lớn lên mới biết bạn đi khóa 16 Sĩ
Quan Đà Lạt và ra trường cưới vợ là một nữ sinh Lycée Yersin, nhà ở dốc Minh
Mạng Đà lạt, nhưng … oái ăm thay người
đẹp đó cũng là một người bạn gái mà tôi
cũng có vấn vương trong những năm
60. Tuy nhiên, không v́ì thế mà chúng
tôi có đ́ều chi lấn cấn, tất cả chỉ là những kỷ niệm đẹp. Vợ chồng bạn và tôi,
chúng tôi khi có cơ hội gặp lại là cùng
nhau cười nói, cùng đi ăn, đi chợ, đi phố mua sắm như anh em ruột thịt trong
nhà.
Cứ mỗi
lần từ Cần Thơ ,Rạch Giá về Sài G̣òn là tôi đều về cư xá sĩ quan cấp Tá bên
hông quốc hội, gần khách sạn Continental ở lại và đi chơi với hai vợ chồng bạn.
Có một
hôm Nguyên rủ tôi đi coi bói, nói có ông Thầy bói mù này hay lắm, ông Minh Đức
Đường ở trong hẻm Lê văn Duyệt Sài
Gọ̀n. Bạn ta đưa tuổi tác ngày sinh
tháng đẻ thì́ thầy bói mù xủ quẻ : “Số ông hiện đang làm Tướng, nhưng hiện tại
đang không có quân.” Tôi cười thầm, thằng bạn ta Thiếu Tá mà răng lại nói tướng
không quân? Biết tôi thắc mắc nhưng bạn ta cứ bấm tay tôi rồi nháy mắt, lắc đầu
ra hiệu đừng nói năng chi rồi bảo tôi tiếp tục nhờ Thầy coi cho tôi. Sau khi
được tôi cho ngày sinh tháng đẻ, ông thầy lại
gieo mấy đồng xu, xủ quẻ và phán :
“Ông sắp thay đổi chỗ ở, nhưng ông đừng lo đi đâu cũng có quý nhân phọ̀
trợ” . Trả tiền ra về mà cứ bực ḿnh,
tôi chưa kịp hỏi Nguyên thì́ Nguyên đã nói:
” Ông
Thầy hay quá, ngày sinh tháng đẻ ḿình đưa cho ông thầy là của Thiếu Tướng
Nguyễn văn Chuân, mì́nh đang làm việc cho ông Tướng, ông sai ḿình đi coi bói đó.” Phần tôi đang bán
tín bán nghi th́ khi về đơn vị nhận ngay giấy về tŕnh diện Sàig̣òn, rồi nhận
lệnh thuyên chuyển lên Sư Đoàn 23 Bộ Binh ở Ban Mê Thuột.
Đúng là
có số mệnh, hai vợ chồng Nguyên ở Sài Gọ̀n, chưa khi mô về Huế ăn Tết, nên năm
ni Nguyên có ý đưa cô vợ Đà Lạt về ăn Tết Huế lần đầu tiên. Chiều 30 Tết bạn lái xe đưa vợ từ nhà ở
Phường Đúc về phố chơi với các anh em tôi và thăm Ba mạ tôi. Đến nửa đêm hai vợ chồng cáo từ ra về, khuya
đó VC xâm nhập Phường Đúc, bạn ta dắt cha chạy qua nhà thờ bên kia đường, trước
mặt nhà, tạm ẩn núp ít hôm, nhưng bị chỉ điểm, hai cha con bị thảm sát. Đó là một ngày đầu Xuân năm Mậu Thân 1968,
bạn ta tức tưởi ra đi để lại một người vợ trẻ và hai con, cháu gái chưa đầy 5
tuổi và thằng con trai vừa đủ 2 năm. Sao không có ông thầy bói mô cho bạn ta
biết, bạn ta đang bị sao hạn nặng nề, đừng về Huế Tết đó th́ì Thầy giỏi biết
bao nhiêu hay là Thầy lại bảo: “Thiên
Cơ bất khả lậu” mà !!!
Mùa hè
năm 1970 hay 71( ? ) , trong một chuyến nghỉ phép ở Sài G̣òn, ma đưa lối, qủy đưa đường, tôi lại ghé vô
Thầy bói mù Minh Đức Đường nhờ gieo một quẻ. Thầy lại phán: “ Chuyến này, ông
chắc chắn xuất ngoạI”. Ra về tôi
cứ nghĩ thầm, cứ tự hỏi, mì́nh đang là
lính tác chiến, đơn vị đang hành quân, ḿình không có hồ sơ hay cơ hội chi để
ra khỏi nước hết. Hay là ḿình sẽ được đi thụ huấn khoá Rừng Núi Sì́nh Lầy ở Mã
Lai??? hay đi học lớp T́ình Báo ở
Tôi vưà
quăng cái va li vào nhà thì́ chiếc xe Jeep của ông Thiếu Úy Sĩ Quan Chỉ Huy Hậu
Cứ Tiểu Đoàn đổ xịch trước cửa và kêu ơi ơí:
” Anh
Định ơi! thay áo quần đi gấp, trực thăng đang chờ anh, Thiếu Tá bảo anh phải
lên ngay.”
Tôi bực
mì́nh gắt gỏng:
“ Anh
cứ nói với Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng là tui chưa về, không gặp tui. Phải để cho tui thư thả, tắm rửa nghỉ ngơi
đã chơ. Mai tui vô Tiểu Đoàn.”
“ Tui
lạy anh, không được mô! anh không đi thì́ tui chết với ổng. Tiểu Đoàn hiện đang ở bên tỉnh Mondokiril –
Campuchia, trực thăng vận tuần trước.
Đại Đôi Chỉ Huy không có ai coi và giúp ổng, ổng cần anh qua, trực thăng
đang chờ trong sân bay Trung Đoàn”. Rứa
là không có cách chi trốn tránh, tui phải lên trực thăng ngay 15 phút sau đó.
Máy bay
bay trên vùng rừng già ba biên giới Việt –Miên – Lào xanh ngút ngàn, anh bạn
phi công học cùng khóa 20 Thủ Đức với tôi, vỗ vai tôi chỉ xuống dọ̀ng sông bên
dưới và nói:
“Định
ơi! dưới đó là ḍòng sông Srépok và chừ
là ḿình đang ở trên đất Miên, 20 phút nữa th́ì xuống băi đáp.”
Tôi bật
cười, lẩm bẩm :” Thầy bói mù nói đúng ḿình xuất ngoại rồi đây”. Chỉ tiếc là không thấy phố phường chi cả,
rừng Miên cũng chẳng khác chi núi Việt , và Thượng Miên cũng trên gùi dưới khố,
đít mốc như Thượng Việt chớ khác gì́ nhau?.
Tôi đã xuất ngoại, tôi đã ra nước ngoài lần đầu tiên trong đời như vậy
đó.
Năm
1972, sau những năm dài chiến trận, tôi được về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 nhờ ba
tôi là bạn của thân sinh ông Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn mới vừa về nhậm chức là Thiếu
Tướng Nguyễn văn Toàn và Đại Úy Xứng, em tôi là một sĩ quan thân cận với ông
Tướng từ những năm ở Sư Đoàn 2 ở Quãng Ngãi.
Chiều
30 Tết, trong phọ̀ng khách dinh Tư Lệnh, Tướng Toàn bảo tôi: “Ê
Định ! Toa lái xe ra ngoài phố, bốc một tay thầy bói mô đó vô đây nghe
hắn nói dốc cho vui.” Lái chiếc
xe Jeep ra đường Hoàng Diệu vắng hoe
chiều ba mươi Tết, tôi nghĩ e phải về không , may đâu bên góc phố trước mặt
xinê Diệp Kính có một anh chàng bói bài đang xếp dọn đồ nghề để ra về, tôi dừng
xe lại và bảo anh lên xe gấp.
Tội nghiệp anh chàng chừng độ tuổi tôi , 32,
33 chi đó thảng thốt lo âu :
” Dạ
thưa ông Trung Úy! Dạ tui phải đi mô ? Dạ chiều 30 Tết rồi, Trung Úy cho tui về
nhà với vợ con”.
Tôi
trấn an anh: “Anh cứ lên xe đi, túi ni
anh sẽ có tiền mang về cho vợ vui”.
Anh lên xe mà nét mặt hiện rõ nét lo âu. Tôi lại phải làm anh yên
lọ̀ng bằng cách nói trước cho anh vài điều về tính
tì́nh, về đời công, đời tư của ông
Tướng. Tôi hỏi anh có tài năng chi và học nghề cách chi thì́ anh trả lời là cũng
chỉ có một vài xảo thuật tào lao và chủ yếu là nói dựa vào tâm lý, nếu mà trung
úy không giúp đỡ như ri thì́ em cũng không dám coi cho ông Tướng. Tôi cũng nói cho anh biết là ông Tướng cũng
buồn nhớ nhà, nhớ vợ con đang ở dưới Nha Trang nên muốn coi cho vui thôi chớ
chẳng tin tưởng hay để ý chuyện chi mô.
Sau khi
đưa anh bói bài gặp ông Tướng, tôi về phọ̀ng cho đến khi nghe chuông điện gọi.
Ông Tướng cười hể hả và nói: “Định, toa
đưa cho ông Thầy về nhà và biếu ông Thầy kha khá một chút để ăn Tết nghe.”
Trong
ba năm được làm việc dưới quyền Trung
Tướng Toàn tôi lại có nhiều dịp gặp lại Thầy Chiêm Đà Lạt, vì thỉnh thoảng Thầy
cũng ghé Pleiku hoặc là khi cuối tuần chúng tôi bay qua Đà Lạt thì́ thầy cũng
ghé thăm, ngoài chuyện bói toán ra cọ̀n có t́nh đồng hương Huế nữa. Do đó tôi cũng có nghe biết một vài chuyện
chừ kể ra đây cho vui chứ tôi không dám bảo đảm bao nhiêu phần trăm tính chính
xác.
Ba mươi
năm đă qua, kể từ ngày chế độ miền
Như
chuyện ông Thiệu lên Đà Lạt cũng kêu thầy Chiêm tới vấn kế triệt hạ ông Kỳ, ông
Kỳ lên Dà Lạt cũng kêu thầy Chiêm tới hỏi cách diệt ông Thiệu, thành ra sau này
Chính quyền Cọng sản nghi ông Thầy Chiêm là CIA. Và như vậy thì, nếu CIA xử dụng các ông Thầy Bói, Chiêm Tinh Gia hay Thầy Chiêm thì́ CIA
sắp xếp chính trường miền Nam cách chi
theo ý họ cũng được hết.
Theo
nhiều chuyện mà tôi nghe lóm được rồi chắt lọc lại thì́ ngày xưa Thầy Chiêm là một nhân viên Ty Thông Tin Huế, trong
một đêm đi chơi về khuya, anh đá phải một cái bọc,lượm lên là một cái bào thai
đã chết, anh đem về chôn cất tử tế, rồi lập am thờ trong vườn nhà, hương khói
đầy đủ. Và từ đó bên tai anh thường văng vẳng những lời chỉ bảo, những lời tiên
tri mà sau này đúng phong phóc và cũng từ đó anh nhân viên Ty Thông Tin đã trở
thành Thầy Chiêm hành đạo cứu đời. Gặp
người nào là anh đã nghe bên tai lời chỉ dẫn, đời tư, lý lịch của họ, những
thắc mằc buồn lo của họ vậy th́ì chuyện Thầy Chiêm càng ngày càng nổi tiếng chẳng có chi là lạ.
Chừ anh
Chiêm đang ở VN , chắc không c̣òn bán
hay mua Thuốc Tây ở Chợ trời Lê Thánh Tôn Sài Gọ̀n nữa, mà chắc là anh
cũng không cọ̀n là Thầy Chiêm của ba mươi năm trước nữa, rứa thì́ chừ anh đang
làm chi? Anh có cọ̀n nhớ tôi không và những điều tôi viết về anh hôm nay có
trúng được phần nào không? có điều chi
sai trái làm anh phiền ḷòng lắm không ?
Ngày
1/11/1974 ,Trung Tướng Nguyễn văn Toàn bàn giao chức vụ Tư Lệnh Quân Đoàn 2
cho Thiếu Tướng Phạm văn Phú và về Sài Gọ̀n giữ chức Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp
Binh, nghĩa là “ ngồi chơi xơi nước lạnh”, không quân, không quyền. Ba thầy trọ̀ như ba anh em, ông Tướng và tôi
cùng Thượng sĩ Xang (cận vệ), sau giờ làm việc là mặc đồ dân sự đi lang thang
khắp hang cùng ngõ hẻm Sài Gọ̀n Chợ Lớn.
Một
buổi sáng chúa nhật kia, nghe tin trên Biên Ḥa có ông thầy bói mù hay lắm là
ba thầy trò lên Biên Ḥa, thầy bói mù gieo quẻ cho ông Tướng rồi nói:
“Ông là
thương gia mà mấy lâu ni đóng cửa tiệm, thôi về gấp mà mở cửa tiệm cho rồI”.
Ba thầy
trò trở về Sài Gọ̀n, định tối nay vô Chợ Lớn ăn mỳ La Cay thì́ được điện thoại
của ĐạI Tá Chánh Văn Phọ̀ng Tổng Thống mời Trung Tướng vào gặp Tổng Thống ngay.
Tôi theo ông Tướng vào Dinh Độc Lập, sau phiên họp mật, tôi thấy ông Thiệu đi
ra với ông Toàn, vừa cười vừa vỗ vai:
“Moa tin tưởng nơi Toa..”
Ngay ngày hôm sau, Tướng Toàn nắm chức Tư Lịnh Quân Đoàn 3 kiêm Chỉ Huy
Trưởng Thiết Giáp Binh, toàn quyền hành động.
Ông Thầy Bói Mù Biên Ḥa qúa giỏi đã đoán đúng, thương gia Nguyễn Văn
Toàn đã mở tiệm lại, nhưng không cho biết chỉ mở có 3 tháng rồi đóng cửa vĩnh
viễn và một chiều cuối tháng 3 năm đó thương gia đã phải bỏ của chạy lấy người
ra Hạm Đội 7 của Mỹ, sống kiếp lưu vong, và có triển vọng vùi thây trên đất
khách. Nếu ông Thầy Bói Mù Biên Ḥa
cho ông thương gia biết điều đó, ông thương gia có can đảm mở cửa tiệm lại
không? Chừ ông Tướng đang gậm nhắm nỗi
buồn ở
Năm năm
trước ông Tướng lên Seattle thăm tôi, tôi có hứa sẽ viết kể lại: “Một ngày với
Tướng Toàn” sẽ viết tất cả sự thật ,nhưng chưa viết được, thì́ giờ đây nhân
nhắc chuyện bói toán, chợt nhớ đến ông, tôi kể lại chuyện vui buồn hơn ba mươi
năm trước, ông Tướng có thấy tui viết đ́ều chi ba láp qúa đáng lắm không?
Nói tắt
một lời, có nhiều điều bí ẩn mà người trần mắt thịt ta không thể nào biết được
, hiểu được, mà riêng tôi vẫn chẳng thấy cần phải hiểu, chúng ta sống ở đời cứ
sống hồn nhiên như một con người với tâm hồn trong sáng và cái tâm hiền
ḥậu. Chuyện gì́ đến cứ đến.
Tây
Phương có câu: “Chacun a` son destin”
(mỗi người có một số mệnh) và ngay cả “Hôn nhân cũng đã định trên Thiên Đàng”
(Marriage made in Heaven ), bên Đông Phương ḿnh cũng có những câu : “Duyên Tiền Định” hay “Nhất ẩm nhất trác giai do tiền định” cái
ăn, miếng uống mà cũng do ông trời định rồi thì́ ḿình lo chi cho mệt óc. Nhưng
nói chi thì́ nói riêng tôi, thằng con nít Thượng Tứ mười tuổi cứ thương hoài
ông Thầy Bói Hậu Bổ và vẫn mong ước làm được bài thơ thương tiếc một thời đã
qua.