( Viết
tặng Thái Kim Lan và bạn bè thuở học
tṛò)
Quế Chi Hồ Đăng Định
Cuộc chiến
tranh Việt Pháp kéo dài 9 năm ( 1945-1954) đã tiêu phí không biết bao
nhiêu sinh mạng thanh niên và lương dân vô tội, đồng thời xua đuổi những người may mắn còn sống sót ra khỏi thôn xóm thân
yêu, trù phú của họ trên mọi miền đất nước.
Thành
phố Huế cổ kính, nhỏ bé cũng như bao
nhiêu thành phố khác, đã mở rộng vòng tay cưu mang, che chở, nuôi dưỡng, những
người dân quê bất hạnh, những nạn nhân chiến tranh, những người này đã đau đớn,
gạt nước mắt bỏ tất cả ruộng nương, tài sản chạy về
Những
người có bà con ở thành phố trước thì bước đầu có nơi nương tựa tạm thời, rồi
tìm thế mưu sinh và ổn định cuộc sống sau, nhưng đại đa số dân nghèo ở thôn quê
không người thân, không quen biết ai, tài sản đôi khi chỉ là một bọc áo quần
rách rưới làm gối kê đầu nằm co ro
trước hàng hiên, góc phố. Có gia đ́ình vợ chồng con cái nheo nhóc, con cái khóc lóc, kêu la đói cơm, khát sửa bên cạnh
tấm thân gầy guộc của mẹ và
trước đôi mắt buồn bã, bất lực của người cha.
Tiếng
khóc trẻ con giữa đêm khuya đã đánh thức những tấm lọ̀ng nhân hậu, nên đã có những cánh cửa hé mở cưu mang. Nhà rộng
thì́ cho cả gia đì́nh nằm tạm một đêm trên nền nhà tránh cơn gió lạnh mùa đông,
hay ít thì́ mang ra một nồi
cơm, một trách cá, một chiếc chiếu cũ, một tấm mền sờn cho cả nhà ấm bụng, ấm lựng qua đêm và sáng
hôm sau, cả vợ lẫn chồng chạy đi tì́m việc
để kiếm cơm ăn ngày khác. Thường thường , chồng thì đem sức trai quê đi
làm thuê, vác mướn vợ thì́ đi ở, giặt
dũ, nấu ăn, làm vú em.v.v …
Cũng
như bao gia đình khác trong thành phố, gia đ́nh tôi cũng đă có rất nhiều giúp
việc trong những trường hợp tương tự như vậy..
Một số
người khác thì́ mạnh mẽ hơn, họ kiếm một con hẻm hay một góc đất trống nào đó,
che tạm mấy miếng tấm các tông (giấy cứng làm thùng bia hay rượu, đồ hộp v.v…)
, hai ba miếng gỗ lượm đâu đó, hì́nh thành một cái mái tạm thời che nắng che mưa. Lần hồi như kiến tha mồi, như chim làm tổ,
từ cái mái có thêm mấy tấm phên và đa số
nhà cửa sau Bờ Hồ Thượng Tứ và khu Hậu Bổ lần lần hì́nh thành...
Thực ra
bao bọc Ḥoàng thành, xây theo kiểu Vauban là một cái hào rộng , chứ không phải
là Hồ
Sau này
người ta trồng sen và rau muống để tăng nguồn thu nhập. Dân nghèo ở quê chạy
loạn lên đã tụ tập, làm nhà bên Bờ Hồ, ngay sau lưng các dãy phố Thượng Tứ,
Trần Hưng Đạo, Gia Long để tiện việc buôn bán làm ăn.
Kể từ Cửa
Ngăn chạy dọc theo bờ hồ, tuy không có sự phân chia chính thức, nhưng người Huế
chúng tôi thường quen gọi tên Bờ Hồ Bến Xe ( sau lưng Bến Xe Nguyễn Hoàng), Bờ
Hồ Thượng Tứ ( sau lưng trường Tiểu học
Thượng Tứ và đường Thượng Tứ), Bờ Hồ Trần Hưng Đạo và Gia Long sau lưng hai con
đường mang cùng tên đó.
Từ một
hai căn xiêu vẹo lúc ban đầu của những năm 49,50 nhà cửa và cư dân xóm Bờ
Hồ Thượng Tứ và Hậu bổ đă phát triển mau lẹ theo cường độ khốc liệt
của chiến tranh. Thời cực thịnh là
những năm 60,70 nhà cửa san sát, khang trang, đèn néon sáng trưng và tiếng nhạc
từ trong các nhà ven Bờ Hồ vang lên đến cả thượng thành.
Có thể
nói Xóm Thượng Tứ, Xóm Bờ Hồ Thượng Tứ và Xóm Hậu Bổ tuy giàu nghèo có khác biệt nhưng cũng là 3 anh chị em trong một
gia đì́nh, thương yêu nhau giúp đỡ lẫn nhau đễ cùng tồn tại và không hề có một
sự phân biệt, khinh trọng giữa người
giàu sang và kẻ nghèo hèn. Như Ba Mạ
tôi thường sai bảo tôi chạy ra sau Bờ Hồ kêu Bác Cháu, Bác Bụi ra giúp Ba Mạ
một tay kê lại cái phản gơ hay bửa mấy mét khối củi đốt bếp tiệm ăn…
Bác Bụi
và Bác Cháu là hai người đàn ông lực
lưỡng, làm nghề kéo xe kéo và xe ba gác chở xi măng, chở sắt, chở gạo .v.v… và
khi gác càng xe bên đường là hai bác sẵn sang giúp bà con trong xóm những công
việc nặng mà kiếm thêm tiền uống rượu.
Vì́ rứa khi mô trong nhà có việc
chi nặng là ba mạ tôi phải nhờ vả sức lực của mấy bác ni. Cứ mỗi người nốc vào hai ba ly rượu đế nhỏ, thở khà một tiếng là hai bác vác cả
quả đất e cũng được.
Bác Bụi
có hai người con bác đặt tên là Thằng Gió, Con Mưa bằng tuổi bọn tôi, không
biết bác có tâm sự đau buồn chi mà đặt tên hai con, ghép với tên Bụi của bác
thì́ cuộc đời sao chỉ là Mưa, Gió, Bụi, buồn bả như vậy.
Bác
Cháu cũng có hai người con trai lớn hơn tôi vài tuổi, không biết đời bác có
nhiều đổi trắng thay đen chi nhiều không mà bác cũng đặt tên cho hai anh là
Thằng Trắng -Thằng Đen. Anh Trắng sau ni đi lính cũng lên chức Đại Úy mà chị
Trắng vẫn ngày ngày bán thịt heo cho bà con Thượng Tứ, trong góc hẻm Bờ Hồ.
Một
nhân vật khác ở sau Bờ Hồ Thượng Tứ
và gắn bó lâu dài với bà con Thượng Tứ
hơn 50 năm ni là Bác Con sửa xe
đạp. Tôi cọ̀n qúa nhỏ nên không biết và
cũng chưa đến tuổi để biết bác từ mô đến, chỉ thấy dưới gốc cây bát bát trước
mặt nhà, phía bên kia đường có một người đàn ông trung niên, cở tuổi ba tôi,
thường ngày ngồi chò hỏ trên một cái đôn nhỏ, vá xe đạp cho khách qua đường.
Khi mô đem xe đạp trật sên hay xì́u lốp đem qua thì́ bác vui vẻ làm giúp mà
không chịu lấy tiền, bác mắc làm việc chi đó thì́ biểu thằng Yên con trai bác,
nhỏ hơn tôi một chút làm giúp cha cho
anh Nam Em một chút.
Có một
điều vui mà sau ni lớn lên tôi mới nhận ra chứ lúc đó cọ̀n nhỏ không để ý là
bác đặt tên cho tất cả các con theo tên các bộ phận hay phụ tùng chiếc xe đạp
như chị Cả tên Con Giàng, Thằng Yên, Con Vành, Thằng Phanh.v.v hai bác cũng có
nhiều con, không biết sau ni hai bác
có đặt tên cho đứa mô là thằng Lốp, con
Sên, con Tăm hay không?
Bác
trai mất cũng đã lâu, chỉ cọ̀n bác gái chừ cũng hơn 85 tuổi, là bạn lâu năm của
O Thiện tôi, ngày ngày bác gái ra tiệm Bánh khoái của O tôi giúp lặt rau, cắt
khế, cắt vả hay giúp làm những việc nhẹ để kiếm tiền xây sọ̀ng điều binh khiển
tướng bốn màu xanh trắng đỏ.
Buổi
sáng Bà U sau Hậu Bổ đi giao sửa đậu nành từng nhà, rằm mùng một thì́ giao
khuôn đậu, Mệ Ngôn cháo bọ̀, O Sĩ bánh bột lọc, Mụ Hộ chè đậu ván, đậu xanh
hột, không thiếu thức chi.
Không
những riêng tôi mà e cả ba mạ tôi cũng không ai biết hai vợ chồng người Bắc ở
ngay sau lưng nhà mì́nh tên chi, nghe mô từ ngoài Bắc lưu lạc vô Huế sau nạn
đói năm Dậu. Trong xóm gọi người chồng
là ông Cả và vợ là Bà U, hay gọi theo các con là Thầy U thế thôi.
Hai ông bà có tất cả là 4 người con (3 trai,
một gái), sinh sống bằng nghề xay đậu nành làm sửa và làm khuôn đậu bán khắp
xóm. Về sau sữa đậu nành của Thầy, U
nổi tiếng ngon, đậm đặc, nguyên chất nên Thầy và U thay phiên nhau đi chân đất,
gánh xuống bán cho cả dảy phố Trần Hưng Đạo và Ngã Giữa (Gia Long) nữa.
Nghề
xay đậu nành bằng cối đá rất nặng nhọc, phải thức khuya dậy sớm rất cực khổ,
Thầy, U ra sức làm việc nhưng như tôi thấy suốt đời vẫn đói rách, Thầy làm xong
việc là uống rượu một mì́nh hết ly này đến ly khác cho quên nổi buồn xa xứ và
đời sống buồn khổ chăng?
Chị An
đi lấy chồng sớm với hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo, nhưng không bao lâu cũng
trở lại nhà vì́ chồng đi lính…tử trận.
Anh Hải
tài hoa, trời phú cho có hoa tay, vẽ rất đẹp.
Không có bút có mực chi hết anh chỉ dùng mấy cục than củi vẽ lên mấy bức
tường đổ Hậu Bổ những tấm hì́nh giống y chang như trong các tấm progamme xi nê
của các rạp Tân Tân và Việt Nam Phim.
Những tấm hình vẻ bằng than, Zorro phi ngựa bắt cướp hay Tarzan giết cá
sấu trên các bức tường Hậu Bổ đã làm cho bọn con nít chúng tôi mê mẩn một
thời. Không biết vì nhà qúa nghèo không
đủ ăn hay anh giác ngộ, tự nguyện đi tu, chỉ biết rằng anh đã xuất gia tu tập trên một ngôi chùa xa thành phố và trong một cơn bạo bệnh anh
cũng đã từ giã cõi đời đầy phiền muộn này.
Người
con thứ trai ba tên Lạc nhỏ hơn tôi độ năm ba tuổi, vui tính, nhanh nhẹn, dễ
thương và thường chạy qua nhà tôi chơi và nhờ tôi dạy kèm suốt một mùa hè. Bẳng đi một thời gian, tôi tì́nh cờ gặp lại
anh ở bên một con hẻm tại chợ Cây Queó Gia Định. Chàng ta đang cùng một người
đẹp ngồi chò hỏ bên gánh hàng rong húp sì sà sì sụp tô bánh canh giọ̀ heo. Thấy tôi chàng đứng lên níu áo chào hỏi ông
anh, kéo người đẹp giới thiệu là vợ sắp
cưới với một cái gịong nửa Huế lai Sài
gòn lơ lớ. Tôi hỏi răng không noái
giọng Huế cho đở mỏi miệng thì́ hắn trả lời chừ em là kịch sĩ và là vua hài
Tùng Sơn của một ban Văn Nghệ Trung Ương nên phải giả giọng cho mọi người đều
nghe được chớ noái giọng Huế nặng quá ai mà nghe được.
Một
thời gian sau, hai vợ chồng về Huế cũng trở về cái căn nhà nhỏ nhoi góc Hậu Bổ
sinh sống lất lây qua ngày. Sau biến cố
1975, vợ con buôn bán may móc trong tại chợ trời Tây Lộc cũng khá, nhưng không
hiểu sao mà một ngày kia Tùng Sơn đã mượn sợi dây oan nghiệt để tự kết liểu đời
mình…