Chuyện Ngày Xưa … Nhớ Nhớ … Quên Quên

( Viết tặng Thái Kim Lan và bạn bè thuở  học tṛò)

 

Quế Chi Hồ Đăng Định

 

Xóm Bờ Hồ Thượng Tứ và Hậu Bổ

 

Trên bì́nh diện lịch sử và chính trị, có những cuộc chiến tranh cần thiết và cũng có những cuộc chiến  tranh phí phạm vô ích sinh mạng và tài sản của con người chỉ vì́ những xúc động nhất thời hay tính cuồng điên của Lãnh Tụ.  Nhưng dù cần thiết hay không ,chiến tranh luôn luôn mang nhiều đau thương, tang tóc cho con người: chết chóc, ly tan, đói khổ, không chốn dung thân…

 

Cuộc chiến tranh Việt Pháp kéo dài  9 năm  ( 1945-1954) đã tiêu phí không biết bao nhiêu sinh mạng thanh niên và lương dân vô tội, đồng thời xua đuổi những người  may mắn còn sống sót ra khỏi thôn xóm thân yêu, trù phú của họ trên mọi miền đất nước.

 

Thành phố Huế cổ kính, nhỏ bé  cũng như bao nhiêu thành phố khác, đã mở rộng vòng tay cưu mang, che chở, nuôi dưỡng, những người dân quê bất hạnh, những nạn nhân chiến tranh, những người này đã đau đớn, gạt nước mắt bỏ tất cả ruộng nương, tài sản chạy về thành phố tránh bom đạn.

 

Những người có bà con ở thành phố trước thì bước đầu có nơi nương tựa tạm thời, rồi tìm thế mưu sinh và ổn định cuộc sống sau, nhưng đại đa số dân nghèo ở thôn quê không người thân, không quen biết ai, tài sản đôi khi chỉ là một bọc áo quần rách rưới  làm gối kê đầu nằm co ro trước hàng hiên, góc phố. Có gia đ́ình vợ chồng con cái nheo nhóc, con cái  khóc lóc, kêu la đói cơm, khát sửa bên cạnh tấm thân gầy  guộc của mẹ    trước đôi mắt buồn bã, bất lực của người cha.

 

Tiếng khóc trẻ con giữa đêm khuya đã đánh thức những tấm  lọ̀ng nhân hậu, nên đã có những cánh cửa hé mở cưu mang. Nhà rộng thì́ cho cả gia đì́nh nằm tạm một đêm trên nền nhà tránh cơn gió lạnh mùa đông, hay ít  thì́ mang ra một  nồi  cơm, một trách cá, một chiếc chiếu cũ, một tấm mền sờn  cho cả nhà ấm bụng, ấm lựng qua đêm và sáng hôm sau, cả vợ lẫn chồng chạy đi tì́m việc  để kiếm cơm ăn ngày khác. Thường thường , chồng thì đem sức trai quê đi làm thuê, vác mướn  vợ thì́ đi ở, giặt dũ, nấu ăn, làm vú em.v.v …

 

Cũng như bao gia đình khác trong thành phố, gia đ́nh tôi cũng đă có rất nhiều giúp việc trong những trường hợp tương tự như vậy..

Một số người khác thì́ mạnh mẽ hơn, họ kiếm một con hẻm hay một góc đất trống nào đó, che tạm mấy miếng tấm các tông (giấy cứng làm thùng bia hay rượu, đồ hộp v.v…) , hai ba miếng gỗ lượm đâu đó, hì́nh thành một cái mái  tạm thời che nắng che mưa.  Lần hồi như kiến tha mồi, như chim làm tổ, từ cái mái có thêm  mấy tấm phên và  đa số  nhà cửa sau Bờ Hồ Thượng Tứ và khu Hậu Bổ  lần lần hì́nh thành...

 

Thực ra bao bọc Ḥoàng thành, xây theo kiểu Vauban là một cái hào rộng , chứ không phải là Hồ như Hồ Tĩnh Tâm bên trong Hoàng Thành hay như Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Trúc Bạch ,Hồ Tây ở Hà Nội. 

 

Sau này người ta trồng sen và rau muống để tăng nguồn thu nhập. Dân nghèo ở quê chạy loạn lên đã tụ tập, làm nhà bên Bờ Hồ, ngay sau lưng các dãy phố Thượng Tứ, Trần Hưng Đạo, Gia Long để tiện việc buôn bán làm ăn.

 

Kể từ Cửa Ngăn chạy dọc theo bờ hồ, tuy không có sự phân chia chính thức, nhưng người Huế chúng tôi thường quen gọi tên Bờ Hồ Bến Xe ( sau lưng Bến Xe Nguyễn Hoàng), Bờ Hồ Thượng Tứ ( sau lưng  trường Tiểu học Thượng Tứ và đường Thượng Tứ), Bờ Hồ Trần Hưng Đạo và Gia Long sau lưng hai con đường mang cùng tên đó.

 

Từ một hai căn xiêu vẹo lúc ban đầu của những năm 49,50 nhà cửa và cư dân xóm Bờ Hồ  Thượng Tứ và Hậu bổ đă  phát triển mau lẹ theo cường độ khốc liệt của chiến tranh.  Thời cực thịnh là những năm 60,70 nhà cửa san sát, khang trang, đèn néon sáng trưng và tiếng nhạc từ trong các nhà ven Bờ Hồ vang lên đến cả thượng thành.

 

Có thể nói Xóm Thượng Tứ, Xóm Bờ Hồ Thượng Tứ và Xóm Hậu Bổ  tuy giàu nghèo có khác biệt nhưng cũng là 3 anh chị em trong một gia đì́nh, thương yêu nhau giúp đỡ lẫn nhau đễ cùng tồn tại và không hề có một sự phân biệt, khinh trọng giữa  người giàu sang và kẻ nghèo hèn.  Như Ba Mạ tôi thường sai bảo tôi chạy ra sau Bờ Hồ kêu Bác Cháu, Bác Bụi ra giúp Ba Mạ một tay kê lại cái phản gơ hay bửa mấy mét khối củi đốt bếp tiệm ăn…

 

Bác Bụi và Bác Cháu là hai  người đàn ông lực lưỡng, làm nghề kéo xe kéo và xe ba gác chở xi măng, chở sắt, chở gạo .v.v… và khi gác càng xe bên đường là hai bác sẵn sang giúp bà con trong xóm những công việc nặng mà kiếm thêm tiền uống rượu.   Vì́ rứa  khi mô trong nhà có việc chi nặng là ba mạ tôi phải nhờ vả sức lực của mấy bác ni.  Cứ mỗi người nốc vào hai ba ly rượu  đế nhỏ, thở khà một tiếng là hai bác vác cả quả đất e cũng được. 

 

Bác Bụi có hai người con bác đặt tên là Thằng Gió, Con Mưa bằng tuổi bọn tôi, không biết bác có tâm sự đau buồn chi mà đặt tên hai con, ghép với tên Bụi của bác thì́ cuộc đời sao chỉ là Mưa, Gió, Bụi, buồn bả như vậy.

 

Bác Cháu cũng có hai người con trai lớn hơn tôi vài tuổi, không biết đời bác có nhiều đổi trắng thay đen chi nhiều không mà bác cũng đặt tên cho hai anh là Thằng Trắng -Thằng Đen. Anh Trắng sau ni đi lính cũng lên chức Đại Úy mà chị Trắng vẫn ngày ngày bán thịt heo cho bà con Thượng Tứ, trong góc hẻm Bờ Hồ.

 

Cả hai bác uống rượu nhiều, làm việc nặng, đời sống khó khăn nên ăn uống thiếu dinh dưỡng,hai bác đều bị lao phổi, là một trong tứ chứng nan y thời đó, nên mặc dù được Ô n Đốc Quyến tận tì́nh cứu chữa từ thiện, với lời khuyên răn bỏ rượu mà hai bác không bỏ được nên đã ra đi sớm. Dù nắng hay mưa hai bác chuyên mặc cái áo tay cụt phanh ngực, cái quần xà lỏn  dù đã qua thời xà lỏn từ ba bốn chục năm trước, tôi chưa hề thấy cả hai bác lần mô mặc cái quần dài.

 

Một nhân vật khác ở  sau Bờ Hồ Thượng Tứ và  gắn bó lâu dài với bà con Thượng Tứ hơn 50 năm ni  là Bác Con sửa xe đạp.  Tôi cọ̀n qúa nhỏ nên không biết và cũng chưa đến tuổi để biết bác từ mô đến, chỉ thấy dưới gốc cây bát bát trước mặt nhà, phía bên kia đường có một người đàn ông trung niên, cở tuổi ba tôi, thường ngày ngồi chò hỏ trên một cái đôn nhỏ, vá xe đạp cho khách qua đường. Khi mô đem xe đạp trật sên hay xì́u lốp đem qua thì́ bác vui vẻ làm giúp mà không chịu lấy tiền, bác mắc làm việc chi đó thì́ biểu thằng Yên con trai bác, nhỏ hơn tôi một chút  làm giúp cha cho anh Nam Em một chút. 

 

Có một điều vui mà sau ni lớn lên tôi mới nhận ra chứ lúc đó cọ̀n nhỏ không để ý là bác đặt tên cho tất cả các con theo tên các bộ phận hay phụ tùng chiếc xe đạp như chị Cả tên Con Giàng, Thằng Yên, Con Vành, Thằng Phanh.v.v hai bác cũng có nhiều con, không biết sau ni  hai bác có  đặt tên cho đứa mô là thằng Lốp, con Sên, con Tăm hay không?

 

Bác trai mất cũng đã lâu, chỉ cọ̀n bác gái chừ cũng hơn 85 tuổi, là bạn lâu năm của O Thiện tôi, ngày ngày bác gái ra tiệm Bánh khoái của O tôi giúp lặt rau, cắt khế, cắt vả hay giúp làm những việc nhẹ để kiếm tiền xây sọ̀ng điều binh khiển tướng bốn màu xanh trắng đỏ.

 

Xóm Bờ Hồ và Xóm Hậu Bổ cung cấp nhân lực cho Xóm Thượng Tứ và Xóm Thượng Tứ lại là nơi tiêu thụ thực phẩm và hàng hóa của hai xóm lao động nói trên.

 

Buổi sáng Bà U sau Hậu Bổ đi giao sửa đậu nành từng nhà, rằm mùng một thì́ giao khuôn đậu, Mệ Ngôn cháo bọ̀, O Sĩ bánh bột lọc, Mụ Hộ chè đậu ván, đậu xanh hột, không thiếu thức chi.

 

Không những riêng tôi mà e cả ba mạ tôi cũng không ai biết hai vợ chồng người Bắc ở ngay sau lưng nhà mì́nh tên chi, nghe mô từ ngoài Bắc lưu lạc vô Huế sau nạn đói năm Dậu.  Trong xóm gọi người chồng là ông Cả và vợ là Bà U, hay gọi theo các con là Thầy U thế thôi.

 

 Hai ông bà có tất cả là 4 người con (3 trai, một gái), sinh sống bằng nghề xay đậu nành làm sửa và làm khuôn đậu bán khắp xóm.  Về sau sữa đậu nành của Thầy, U nổi tiếng ngon, đậm đặc, nguyên chất nên Thầy và U thay phiên nhau đi chân đất, gánh xuống bán cho cả dảy phố Trần Hưng Đạo và Ngã Giữa (Gia Long) nữa. 

 

Nghề xay đậu nành bằng cối đá rất nặng nhọc, phải thức khuya dậy sớm rất cực khổ, Thầy, U ra sức làm việc nhưng như tôi thấy suốt đời vẫn đói rách, Thầy làm xong việc là uống rượu một mì́nh hết ly này đến ly khác cho quên nổi buồn xa xứ và đời sống buồn khổ chăng?

 

Chị An đi lấy chồng sớm với hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo, nhưng không bao lâu cũng trở lại nhà vì́ chồng đi lính…tử trận.

 

Anh Hải tài hoa, trời phú cho có hoa tay, vẽ rất đẹp.  Không có bút có mực chi hết anh chỉ dùng mấy cục than củi vẽ lên mấy bức tường đổ Hậu Bổ những tấm hì́nh giống y chang như trong các tấm progamme xi nê của các rạp Tân Tân và Việt Nam Phim.  Những tấm hình vẻ bằng than, Zorro phi ngựa bắt cướp hay Tarzan giết cá sấu trên các bức tường Hậu Bổ đã làm cho bọn con nít chúng tôi mê mẩn một thời.  Không biết vì nhà qúa nghèo không đủ ăn hay anh giác ngộ, tự nguyện đi tu, chỉ biết rằng anh đã  xuất gia tu tập  trên một ngôi chùa xa thành phố và trong một cơn bạo bệnh anh cũng đã từ giã cõi đời đầy phiền muộn này.

 

Người con thứ trai ba tên Lạc nhỏ hơn tôi độ năm ba tuổi, vui tính, nhanh nhẹn, dễ thương và thường chạy qua nhà tôi chơi và nhờ tôi dạy kèm suốt một mùa hè.  Bẳng đi một thời gian, tôi tì́nh cờ gặp lại anh ở bên một con hẻm tại chợ Cây Queó Gia Định. Chàng ta đang cùng một người đẹp ngồi chò hỏ bên gánh hàng rong húp sì sà sì sụp tô bánh canh giọ̀ heo.  Thấy tôi chàng đứng lên níu áo chào hỏi ông anh, kéo  người đẹp giới thiệu là vợ sắp cưới với một cái gịong nửa Huế lai  Sài gòn lơ lớ.  Tôi hỏi răng không noái giọng Huế cho đở mỏi miệng thì́ hắn trả lời chừ em là kịch sĩ và là vua hài Tùng Sơn của một ban Văn Nghệ Trung Ương nên phải giả giọng cho mọi người đều nghe được chớ noái giọng Huế nặng quá ai mà nghe được.

 

Một thời gian sau, hai vợ chồng về Huế cũng trở về cái căn nhà nhỏ nhoi góc Hậu Bổ sinh sống lất lây qua ngày.  Sau biến cố 1975, vợ con buôn bán may móc trong tại chợ trời Tây Lộc cũng khá, nhưng không hiểu sao mà một ngày kia Tùng Sơn đã mượn sợi dây oan nghiệt để tự kết liểu đời mình…