Thơ chữ Hán
Thiếu Khanh
|
少 卿 失 時他方 有 感 廿 年 翰 盡 墨 成 虛 渺 渺 前 途 有 所 思 留 守 丹 心 曾 折 筆 由 憐 赤 子 未 焚 書 半 生 春 秀 風 塵 客 滿 腹 文 章 布 笠 夫 萬 里 鵬 程 風 未 起 深 山 藏 迹 暫 耕 耡 (芳 林 o 仲 秋 丙 辰 年 o
1976) |
(Dịch âm) Thieu Khanh Thất thời tha phương hữu cảm Trấp niên hàn mặc
tẫn thành hư Diểu diểu tiền đồ hữu sở tư Lưu thủ đan tâm tằng chiết bút Do lân xích tử
vị phần thư Bán sinh xuân tú
phong trần khách Mãn phúc văn chương bố lạp phu Vạn lý bằng trình phong vị
khởi Thâm sơn tàng tích tạm canh sừ (Phương
Lâm - Trọng thu Bính Thìn
niên – 1976) |
|
|
Không đề Công lênh đèn
sách hóa vu vơ Thăm thẳm đường dài luống ngẩn ngơ Bút đã từng
quăng vì bụng thẳng Sách còn chưa
đốt xót con thơ Nửa đời trai trẻ đi lang bạt Đầy bụng văn chương sống vật vờ Muôn dặm cánh
bằng chưa nổi gió Rừng sâu cày
cuốc đến
bao giờ! Thiếu Khanh (ThờI làm rẫy ở Phương
Lâm - 1976) |
Dịch nghĩa:
Thất thời lưu lạc
Hai mươi năm bút mực
bây giờ tất cả đều hóa thành hư không
Con đường
thăm thẳm trước mặt có điều phải lo nghĩ
Giữ tấm lòng
son nên đã bẻ bút rồi
Thương con còn nhỏ
chưa nỡ đốt sách
Nửa đời trai trẻ tốt đẹp hóa ra khách
phong trần
Đầy bụng văn
chương mà chỉ là người
áo vải nón lá
Đường bay của chim bằng xa vạn dặm
nhưng gió chưa lên
Tạm ẩn mình
trong rừng sâu mà cày
cuốc vậy.
(Phương Lâm,
Trung Thu năm Bính Thìn – 1976)