Bút kí
A
LÔ ĐỒNG KHÁNH ĐÂY
Hướng
Dương PTM
Bốn mươi năm bặt tin nhau
Nay gặp lại vẫn “MI TAU”
đậm đà
Đứa mô cũng lên chức BÀ
Bao nhiêu chuyện kể sa đà
ngày đêm...
Vâng,
có biết bao nhiêu chuyện kể trong mỗi cuộc đời.
Nghèo th́ có “liên khúc nghèo”, giàu th́ có “người giàu cũng
khóc”. Riêng cái “liên khúc học tṛ” ru măi ngàn năm cũng không
thể nào stop được. Tôi không biết sẽ bắt
đầu và kết thúc nơi mô...
Kể từ dạo nớ,
mùa hè 1967, lũ chúng tôi gút-bai sân trường Đồng
Khánh, mỗi đứa một ngă. Rứa mà đă 40
năm. Đứa mô cũng xấp xỉ 6 bó lúa vàng.
Kỷ niệm xưa thật êm
đềm
Cuộc đời dâu bể
trăm miền nổi trôi
Email tui gỏ liên hồi
Từ nay tui hết lẻ loi xứ
người
Chồng tui thông cảm mỉm
cười
Ăn liền ḿ gói một hơi...
mấy ngày!
Hết email rồi tới
phôn. Phôn “nổ” tràng giang đại hải không chấm
không phết như Bạch Đằng Giang 67 ra quân dưới
sự chỉ huy của nhạc trưởng Trần Bạch
Lan nhân ngày kỉ niệm 99 năm Đồng Khánh tại
Cali. Đồng hương, đồng đạo, đồng
môn, đồng lứa, đồng lớp, Đồng
Khánh... đă nối mạng với nhau trên vùng trời tự
do. Giờ giấc ở các nước, các tiểu bang khác
nhau, nên mỗi tối hễ nghe tôi “mở máy” là ông xă tôi ôm
mền gối chạy ra sofa, mở đài bóng đá để...
ngủ.
Do t́nh h́nh “hội ngộ
trùng dương” sôi động, hạnh phúc quá, tôi xuất
khẩu thành thơ như bươm bướm.
Tha phương lưu lạc
đất này
T́nh thân bè bạn xưa, nay có c̣n?
Tôi gởi cho
Kim-Đôn mấy câu:
Thôi th́ Huế đă xa xăm
Sương mưa năm tháng
đă hằn mắt môi
Thôi th́ c̣n chút chuyện đời
Dành cho nhau bớt lẻ loi phận
già.
Nghe cũng tội tội,
rứa mà hắn lại “x́-nẹt”: “Cứ mi mi tau tau hoài,
làm răng mà già được, cái con khỉ!”
Tháng 10 năm 2005 tôi
đi
Sau đó tôi liên lạc
được với đầu tàu “Trung tâm t́m trẻ lạc”
Đoàn Thu-Lê. Tôi gởi cho hắn những tấm h́nh cũ
và tấm h́nh “nằm đè lên nhau” được xuất
hiện trên các DVD “Cô Gái Nữ Sinh Đồng Khánh” do chị
Liên-Như và Bạch-Lan thực hiện để gây quỹ
giúp trẻ em bẩm sinh phế tật ở quê nhà. Ngày
xưa, Bạch-Lan, Kim-Liên và tôi cùng tham gia sinh hoạt trong Hội
Thanh Niên Thiện Chí do cô Marybeth Clark chỉ đạo. C̣n
Thu-Lê, cuộc đời của hắn thật đáng cho
tôi thèm thuồng và ngưỡng mộ. Thu-Lê du học Mỹ
năm 1968. Từ năm học lớp đệ thất,
Thu-Lê đă được cô Tiểu-Bích cho mang hia, đội
mũ gắn lông gà, đóng vai hoàng tử trong nhạc cảnh
“Công chúa ngủ trong rừng”. Tuyết-Hoa bị cô cho thủ
vai lính hầu. Và tôi, chao ôi! ... bị cô phủ từ đầu
đến chân một đống cành lá sum sê, tay cầm một
thân cây lớn, đứng như trời trồng trên sân khấu!
Vừa rồi, tôi complain cô, cô cười “tại M. cao lêu
khêu, mắt to đen như sơn nữ” (tôi sực nhớ
Thu-Lê thường tự thú nhận ḿnh có tướng...
lùn nên tôi cũng đă hết hận). Sau khi đổ tú
tài toàn phần đến nay, chúng tôi mới gặp lại
nhau, phần lớn định cư ở xứ Cờ
Hoa. Bây giờ cô Thúy-Nga gọi lũ chúng tôi là HỌC-TR̉ MỆ,
mệ nội, mệ ngoại cả. Quí thầy giáo th́
không c̣n “dám” xưng hô thân mật “các em, các con” nữa!
40 NĂM XƯA
Con đường Ô Hồ
rất ngắn (như một vạch ngang nối liền
hai đường Ngự Viên và Đ̣ Cồn), có nhiều
con gái tóc thề học trường Đồng Khánh. Đầu
xóm trên là nhà Diên-Hồng, đối diện là các tiểu
thư Hạ-Vân, Thanh-Hương, Hoàng-Cần. Kế cận
là hai chị em Lệ-Xuân, Hồng-Phước, rồi tới
hai chị em tôi (chị Tám học hơn tôi ba lớp). Xóm
dưới là hai chị em có giọng hát xuất sắc:
Tôn nữ Lài, Tôn nữ Quít. Cuối đường là
Đoàn thị Châu, hai chị em Ngọc-Bích và
Kim-Cương... V́ có nhiều nữ tú nên cũng có nhiều
nam thanh dập d́u mài lốp xe sớm tối. Chỉ tội
nghiệp cho trái tim của các bậc phụ huynh luôn thấp
thỏm v́ có “hủ mắm treo đầu giàn ... hai sắc
hoa ti-gôn”.
Nhà tôi nằm bên bờ
hồ nên mùa mưa lụt sớm hơn mọi nơi. Mạ
tôi bận nấu cơm, kho ruốc sả để dự
trữ. Tôi lẻn ra ngoài đường, xắn quần
đi lội nước lụt với mấy đứa
bạn cùng xóm. Đến mùa hạ th́ cảnh vật sau
nhà tôi đẹp như tranh vẽ. Mỗi mùa thi, bạn bè
cùng xóm: Diên-Hồng, Hoàng-Cần, Châu, Lệ-Xuân, Hồng-Phước...
ôm sách vở chạy qua nhà tôi, ngồi ôn bài cạnh hồ
sen. Gió mang hương sen ngan ngát từ dưới hồ
thổi lên mát rượi, có lẽ không một quạt
điện nào trên thế giới sánh bằng. Học xong,
đói bụng, bọn tôi xắn quần, lội xuống
hồ hái trộm gương sen, hạt sen non ăn ngọt
mát đầu lưỡi. Nếu như bị chủ hồ
sen phát hiện, mắng chưởi th́ chỉ có ḿnh tôi
“lănh đủ”, c̣n các bạn th́ đă xa chạy cao bay.
Tôi thường mắc
vơng giữa hai cây mừng già, có những chùm hoa màu đỏ
buông lơi từ ngọn cây xuống, tôi gọi là “Thiên
linh chuổi”. Tôi bảo “đứa mô ngủ ở đây
sẽ thông minh, học giỏi”. Hạt sen, trái ấu, cá
tôm dưới hồ gắn liền với tuổi ấu
thơ của tôi, với tuổi học tṛ của đứa
con gái nhà nghèo cho đến năm tôi mười tám tuổi.
Tôi mang cái nghiệp làm thơ từ năm lên mười,
có lẽ là do thiên nhiên trữ t́nh thơ mộng ảnh
hưởng sâu đậm vào tâm hồn thơ dại. Trừ
lúc làm thơ than thở nắng mưa, chứ c̣n những
tṛ nghịch ngầm của tôi th́ chỉ thua quỉ và ma.
Tôi nhớ năm học
đệ tứ B5, có một lần tôi đang ngồi im
phăng phắc lắng nghe cô Như-Nguyện giảng bài
“Kiều thăm mộ Đạm Tiên”. Bỗng một tờ
giấy dúi vào tay tôi. Chờ khi cô lên bảng viết, tôi vội
mở ra xem: “Đố tụi bây Kiều đang làm-cái-chi
khi t́m đến chỗ mồ mả vắng vẻ: “Sè sè
nắm đất bên đường. Dàu dàu ngọn cỏ
nửa vàng nửa xanh”. Giờ ra chơi, lũ chúng tôi vừa
chạy vào nhà vệ sinh vừa cười như nức nẻ.
Câu thơ này thường do tôi “xướng” lên mỗi
khi... Đến năm học cuối cấp, tôi cũng
chưa chịu tỏ ra nghiêm túc, đoan trang như các cô
thiếu nữ xuân th́. Thầy Diên độc thân trẻ tuổi,
có nụ cười “hiền như masoeur”, lănh đạo
một vương quốc nữ “xuân xanh xấp xỉ tới
tuần cập kê”. Trong ngày liên hoan nghỉ Tết, tôi
đă “chủ mưu” bày tṛ chơi “triều cống” để
trêu thầy... nhưng trong thành tích biểu (tôi vẫn c̣n giữ)
thầy vẫn phê “Khá lắm, chăm chỉ, hoạt động,
hạnh kiểm tốt”. Nói chung, thầy cô nào cũng “nhẹ
tay” đối với học sinh năm học cuối.
Tính tôi “can trường”
như con trai, nhưng hễ thấy con sâu tḥng xuống từ
những cây muồng vàng trong sân trường là mặt tôi
xanh lè, giờ ra chơi ngồi ru rú trong lớp. Tôi nói “Tau
không làm nên sự nghiệp lớn được. Hễ ai
bỏ con sâu vào người tau là tau khai vanh vách hết”. Sau
này các bạn đă trở thành những nhà triệu phú, nhà
khoa học, nhà truyền giáo... c̣n tôi chỉ là một “nhờ
tha” (poet), thơ làm ra toàn cho không, biếu không, mấy ai
thích đọc huống hồ là mua (!)
Năm học đệ
lục, tôi ăn cơm trưa dài dài ở nhà cô Mộng-Hà
để làm đặc san của lớp và tập múa.
Tháng 8 năm 2007 Ngọc-Trang đi du lịch tại Mỹ
đă nhắc lại truyện ngắn “Cho chừa leo ổi”
của tôi được cô Mộng-Hà chọn đăng
trong tờ “Nhất Trí”. Diên-Hồng, Ngọc-Trang và tôi
thường làm thơ đăng báo và chép tặng nhau những
bài thơ “mới ra ḷ” trên giấy pơ-lua màu xanh. Cô Doăn
thương đồng đều các em học sinh,
nhưng khi thấy cô chụp h́nh riêng với người bạn
thân của tôi, tôi bèn làm bài thơ “Ghen” (không dám tŕnh làng). Nhớ
lại thiệt mắc cỡ dễ sợ.
Hồi tôi c̣n “chân
ướt chân ráo” vào trường Đồng Khánh, có một
lần ra chơi, tôi và cô bạn người Tàu đi t́m
nhà vệ sinh, tôi hỏi nhỏ hắn: “Các cô giáo cao siêu mầu
nhiệm, họ có làm cái việc trần tục như tụi
ḿnh không?” Hắn cũng ngô nghê, gật gật cái đầu:
“Ừ hí! nhưng mà như rứa th́ pể cái pụng, chết
mất!” Chị tôi cũng học Đồng Khánh. Mỗi
lần căi nhau chị em tôi thường mang cô giáo ra để
“trút hận”: “Cô của chị xấu”, “cô của mi mới
xấu tề”. Có khi tôi cảm thấy không “bảo vệ”
được cô tôi, tôi khóc hu hu. Có mô như bây chừ: nào
là “Ṿng tay học tṛ”, “Thầy ơi thầy, em “iu” thầy
lắm”.
Tháng 6 năm 2006, cô
cháu gái của tôi thực hiện tập thơ “TỰ KHÚC
HƯỚNG DƯƠNG” để làm qùa sinh nhật 58 tuổi
của tôi. Tôi hỏi được địa chỉ của
một số người-xưa-Đồng-Khánh và gởi
tặng. Tôi mừng chảy nước mắt khi
được các cô “phê”: “M. giỏi lắm”. Cô Thúy-Nga và cô Mộng-Hà cho tôi biết
cô thích nhất bài thơ “Hỏi Tên” vỏn vẹn 4 câu:
Nhắm mắt đếm một
hai ba...
Đến mười mở mắt,
t́m ra tên người
Vô danh tiểu tốt trên đời
Cái tên vô ngă, nhớ rồi lại
quên.
Cô Hà nói đùa “tư
tưởng lớn gặp nhau” vi t́m thấy tên thật của
tác giả trong phần giới thiệu tập thơ. Sau
bao nhiêu năm xa cách, giờ đây các cô giáo ngày xưa
đă nói chuyện thoải mái, tâm sự với học sinh
của ḿnh như ngang hàng ngang lứa. Tôi đă liên hệ
được với thầy Toản, thầy Ấn, cô
Thúy-Nga, cô Nguyệt, cô Mộng-Hà, cô Tiểu-Bích, cô Quế-Hương,
cô Doăn, cô Mỹ-Trang. Phần nhiều các cô định
cư ở Mỹ nên Thu-Lê thường sưu tập h́nh ảnh
gởi cho tôi. Thầy nào tṛ nấy, đa số học
sinh Đồng Khánh nối nghiệp thầy cô. Mỗi lần
tôi email hai chữ “Thưa cô” là tôi cảm nhận được
cái hạnh phúc như thuở c̣n cắp sách. Nhưng khi nghe
những “học-tṛ-mệ” của tôi “Thưa cô” th́ tôi buồn
năm phút v́ biết ḿnh không c̣n trẻ nữa.
Lên đến đệ
nhị cấp, tôi đâm ra thích làm thơ “con trai”. Có lần
tôi giả là một nam sinh trường Quốc Học, gởi
bài thơ t́nh cho một cô tiểu thư học khác ban mà bọn
tôi thường cho là “ngây thơ cent feuilles”. Trong đó có
đoạn:
Em về đâu tà áo trắng thân
thương
Giờ tan học anh theo sau lặng
lẽ
Mắt anh đậu trên nửa
vành nón Huế
Em nghiêng chi cho lệch lối anh về.
Giờ tan học hôm
sau, tôi để ư thấy cô bạn treo cái nón lá ở
ghi-đông xe, phơi đầu trần dưới cái nắng
giờ ngọ. Thiệt t́nh, tôi cũng hơi áy náy.
Khi trưởng thành,
tôi vẫn quen tự xưng “anh” khi làm thơ. Trong pḥng khách
của bác họa sĩ láng giềng là Tôn Thất Đào, có
treo bức tranh rất lớn tên là “Sông Hương núi Ngự”.
Bác vẽ một cô gái đang nằm, suối tóc mây mềm
mại xơa dài theo thân h́nh và bộ ngực trần nổi
lên ... Mấy chục năm sau, khi trở lại Huế,
tôi nhớ lại và phóng bút bốn câu:
Về đây ta lại gặp em
Nh́n trăng thiếu phụ mơ
triền núi xa
Khỏa thân sông hát t́nh ca
Trần lưng núi Ngự khơi
ta băo cuồng.
Của đáng tội!
Một số độc giả đọc thơ, hiểu
cách chi không biết, gọi tác giả là “ông Hồ Xuân
Hương”!
Tuổi học tṛ, tôi mải mê học,
mải mê chơi nên đến tuổi trăng tṛn lẻ
mà vẫn chưa có ai cập kè. Mạ tôi thường ca cẩm
“Cái con Út ni, mê bạn quên ăn quên ngủ.” Tôi và
Lương Kim-Kê là cặp bài trùng “hai cây sậy Pascal”.
Năm vào đệ tam, mặc dù “có khiếu văn
chương” như lời phê của các giáo sư dạy
môn văn, nhưng tôi lại đi lộn lớp, vào ban A
theo con bạn ở cạnh nhà. Mỗi lần thấy
Kim-Kê khoát tay với mấy đứa ban C là tôi tức cành
hông, dằn mặt hắn. “Duyên nợ” vẫn c̣n nên đến
tháng 9 năm 2007, Thu-Lê đă t́m ra tung tích “con gà vàng” cho tôi.
Kê réo tôi liên tục “M, ơi! Về đi! Tau nhớ mi quá!”
Ừ, c̣n sống th́ c̣n gặp nhau.
Số tôi có “CUNG BẰNG HỮU” tốt. Cho nên dẫu
tôi có ở đâu, đi đâu, về đâu cũng không
c̣n lẻ loi phận già nữa. Đầu năm 2007,
Hoàng-Cần từ đảo Alamenda (Cali) bay qua thăm tôi.
Hai đứa thức liền mấy đêm tâm sự. Tôi
khuyên Cần: “Truyện ngắn và bút kí của mi rất dễ
thương nhưng theo tau làm thơ có lẽ khôn hơn.
Thơ th́ lấp la lấp lánh, như thực như mơ,
vô thưởng vô phạt. C̣n các nhà văn th́ lôi hết lục
phủ ngũ tạng chuyện ḿnh chuyện người,
không đánh mà khai tuồn tuột cho thiên hạ enjoy”.
Tôi
viết “hài kí” này là do sự động viên, khuyến khích
của một số cô giáo và bạn bè. Xin cám ơn cô
Thúy-Nga, cô Quế-Hương và Thu-Lê đă có nhă ư đánh máy
dùm.
Hướng Dương xin tạm ngừng ở đây.